Làng nghề Bình An nằm ven sông Vàm Cỏ Tây. Trước thời điểm sắp xếp đơn vị hành chính, địa danh này thuộc huyện Tân Trụ, tỉnh Long An; hiện nay thuộc xã Tân Trụ, tỉnh Tây Ninh.
Theo tư liệu địa phương, nghề làm trống tại Bình An xuất hiện từ thế kỷ XIX, do nghệ nhân Nguyễn Văn Ty khởi xướng. Qua nhiều thế hệ kế tục theo hình thức truyền nghề trong gia đình, nghề truyền thống này vẫn được duy trì và phát triển cho đến ngày nay.
Không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước, các sản phẩm trống Bình An còn được đưa đến nhiều thị trường nước ngoài, góp phần quảng bá nghề thủ công truyền thống Việt Nam.
Điểm nổi bật của trống Bình An là quy trình sản xuất chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp thủ công. Mỗi sản phẩm phải trải qua nhiều công đoạn, từ lựa chọn nguyên liệu, tạo hình thân trống, xử lý da đến hoàn thiện âm thanh và trang trí.
Nguyên liệu làm thân trống thường là gỗ sao có tuổi đời cao nhằm tăng độ bền, hạn chế cong vênh và mối mọt trong quá trình sử dụng. Các thanh gỗ được gia nhiệt bằng phương pháp truyền thống để tạo độ cong phù hợp trước khi ghép thành thân trống.
Đối với mặt trống, người thợ lựa chọn loại da có độ bền và độ đàn hồi tốt để tạo chất lượng âm thanh ổn định. Những công đoạn xử lý da, căng mặt trống và cân chỉnh độ căng đều đòi hỏi kinh nghiệm lâu năm cùng sự khéo léo của người thợ.
Một nét đặc trưng khác của làng nghề là việc điều chỉnh âm thanh chủ yếu dựa trên cảm nhận thính giác và kinh nghiệm thực tế thay vì sử dụng thiết bị đo hiện đại. Mỗi dòng sản phẩm được tạo âm sắc riêng để đáp ứng nhu cầu sử dụng trong biểu diễn nghệ thuật, trường học, đình, chùa hay các hoạt động tín ngưỡng, lễ hội.
Sau khi hoàn thiện phần kỹ thuật, sản phẩm được phủ lớp sơn đỏ truyền thống và trang trí bằng các họa tiết thủ công, tạo nên diện mạo đặc trưng đã gắn liền với thương hiệu trống Bình An nhiều năm qua.
Theo đánh giá của địa phương, nghề làm trống Bình An không chỉ góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân mà còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa gắn với đời sống tinh thần, nghệ thuật và lễ hội truyền thống của vùng Nam Bộ.
Việc được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là cơ sở quan trọng để địa phương tiếp tục triển khai các hoạt động bảo tồn, truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ, đồng thời phát huy giá trị của làng nghề gắn với phát triển văn hóa và du lịch trong thời gian tới.