Bàn về chính sách đầu tư cho hoạt động bảo tồn di sản văn hoá

19/01/2023 21:14

Để các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thấm sâu vào mọi mặt đời sống xã hội, đặc biệt trong hoạt động bảo tồn di sản văn hoá (DSVH), điều kiện tiên quyết đặt ra là phải nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, đồng thời phải tăng cường đầu tư nguồn lực trong đó có nguồn đầu tư công (ngân sách nhà nước) cho phát triển văn hoá và bảo tồn DSVH.

Bài viết tập trung bàn về nhu cầu hoàn thiện thể chế, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mà quan trọng nhất là Luật Di sản văn hoá nhằm cụ thể hoá và pháp điển hoá chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước tạo hành lang pháp lý rộng mở cho các hoạt động bảo tồn DSVH. 

Bên cạnh đó trao đổi ý kiến về những chính sách phù hợp và mô hình hoạt động có hiệu quả nhằm phát huy thế mạnh của DSVH với tư cách là mục tiêu và động lực tinh thần thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hoá có tiềm năng theo các mục tiêu chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2030.

11111111-1674137630.jpg

1. Di sản văn hoá một thành tố quan trọng trong chiến lược phát triển văn hoá giai đoạn 2020 - 2030

Cần nhận thức rõ, việc bảo tồn DSVH là nhiệm vụ then chốt của chiến lược phát triển văn hoá vì:

Hàm chứa các giá trị văn hoá cốt lõi của quốc gia dân tộc, DSVH có khả năng đóng góp to lớn cho yêu cầu xây dựng môi trường xã hội lành mạnh và có văn hoá (sự ổn định xã hội) là yếu tố quan trọng hàng đầu cho phát triển bền vững. Cũng có thể coi đây là “sức mạnh mềm” thế mạnh của Việt Nam.

Bảo tồn DSVH là nhằm thực hiện chức năng giáo dục của văn hoá, đáp ứng yêu cầu xây dựng và vun đắp tư tưởng, đạo đức, lối sống nhân văn và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế.

Bảo vệ DSVH tạo cơ sở khoa học nhằm cung cấp cho xã hội những dạng thông tin nguyên gốc, chân thực chứa đựng nguồn tri thức dân gian/bản địa, kinh nghiệm và bài học lịch sử có ích cho thế hệ hôm nay hiểu đúng về quá khứ, nhận thức đúng về hiện tại và định hướng tương đối chính xác cho xu thế phát triển của đất nước và cả nhân loại để có phương thức ứng xử phù hợp nhất, có lợi nhất cho quốc gia dân tộc. 

DSVH được bảo tồn với tư cách là loại tài nguyên nhân văn quan trọng nhất để phát triển ngành công nghiệp văn hoá có ưu thế là du lịch văn hoá, du lịch di sản. DSVH cùng với các dịch vụ du lịch có khả năng cung cấp cho xã hội những sản phẩm văn hoá, loại hàng hoá đặc biệt mang “giá trị kép” - Thoả mãn nhu cầu hưởng thụ về tinh thần ngày càng cao của con người, đồng thời có thể bán cùng một lúc cho nhiều người, bán nhiều lần “giá trị trải nghiệm” văn hoá, tạo nguồn thu khá lớn đóng góp vào tổng thu quốc gia hàng năm. Mặt khác du lịch văn hoá, du lịch di sản còn tạo ra sinh kế bền vững cho cộng đồng cư dân địa phương cư trú xung quanh DSVH và các điểm đến du lịch.

Câu hỏi lớn đặt ra là: ngành di sản văn hoá phải làm gì để biến các giá trị DSVH vật thể và phi vật thể thành những “lực lượng vật chất” thực sự cần thiết cho công cuộc kiến thiết đất nước, có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Phải coi đây là mục tiêu quan trọng cần đạt tới trong tất cả các lĩnh vực hoạt động bảo tồn DSVH.

Chúng ta biết, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra 12 định hướng lớn để phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, trong đó định hướng thứ 4 liên quan tới lĩnh vực phát triển văn hoá có ghi rõ “phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hoá thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hoá. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước” 1. 

Nghị quyết quan trọng nói trên cho thấy, trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng ta luôn xác định nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Từ đó suy ra, nòi giống “Lạc Hồng” với hai kênh di truyền sinh học và văn hoá phải được xem là một bộ phận cấu thành quan trọng vào bậc nhất trong kho tàng DSVH Việt Nam. Đó là những giá trị văn hoá hết sức quý giá đã được hun đúc, kết tinh và lưu truyền qua hệ giá trị của từng cá nhân, con người cụ thể, mà đại diện tiêu biểu có các giá trị quý giá đó được thể hiện qua tư tưởng, tấm gương sáng về đạo đức và sự nghệp vẻ vang của các vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của đất nước. Vì vậy Đảng ta luôn chủ trương kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò tổng hợp của toàn xã hội, của các đoàn thể xã hội, cộng đồng cư dân ở các địa phương, của gia đình, các dòng họ và nhà trường cho việc chăm lo xây dựng con người, tạo lập hệ giá trị văn hoá của từng cá nhân con người Việt Nam.

Và đến lượt mình, hệ giá trị con người Việt Nam phải là cơ sở để xây dựng hệ giá trị văn hoá của quốc gia dân tộc. Theo đó, Đảng ta xác định nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện hướng đến Chân - Thiện - Mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học2. Hệ giá trị văn hoá thể hiện rõ 7 đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù và sáng tạo3.

Tôi nghĩ rằng, hoạt động bảo tồn DSVH Việt Nam có mục tiêu quan trọng là góp phần bảo vệ và phát huy hệ giá trị văn hoá Việt Nam và thiết thực phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới. 

2. Hoàn thiện thể chế và xây dựng chính sách đầu tư cho hoạt động bảo tồn DSVH là nhiệm vụ cấp bách đặt ra cho ngành Di sản

1. Đối tượng cần được bảo vệ và phát huy giá trị

Trong lý thuyết bảo tàng học hiện đại, ngoài phần “vỏ vật chất”/”chất mang, chất truyền tải” các giá trị DSVH, người ta quan tâm sâu sắc hơn tới các mặt giá trị văn hoá phi vật thể (VHPVT) chất được kết tinh hoặc “vật chất hoá” trong các di tích lịch sử - văn hoá hay DSVH Vật thể (DSVHVT) và đặc biệt nhấn mạnh tới mặt đắc dụng/tính hữu ích hay khả năng của DSVH mang lại lợi ích tinh thần và vật chất cho con người, khả năng thích ứng, đáp ứng tốt nhất nhu cầu phát triển của xã hội. Trong nhiều trường hợp, tính hữu ích và khả năng đáp ứng nhu cầu của xã hội là yếu tố xác định rõ vai trò và trị trí của DSVH trong đời sống của con người hiện đại, đồng thời còn là nhân tố quyết định lựa chọn DSVH để ưu tiên bảo tồn cũng như các mô hình và giải pháp Khoa học – kỹ thuật cho các hoạt động bảo tồn DSVH. 

Vậy đối tượng cần được ưu tiên bảo tồn chính là các giá trị văn hoá/yếu tố cốt lõi – yếu tố bất biến trong DSVH. Đối với cộng đồng quốc gia các dân tộc Việt Nam, yếu tố bất biến/tính vĩnh cửu bao giờ cũng là lợi ích cốt lõi của quốc gia: Độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước và phồn vinh hạnh phúc của toàn thể nhân dân.

Các giá trị văn hoá được tích hợp và “vật chất hoá” vào trong các loại hình DSVH: (1) DSVH phi vật thể; (2) DSVH vật thể (các di tích lịch sử - văn hoá). (3) Di sản tư liệu, (4) các bộ sưu tập hiện vật gốc của bảo tàng (di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia …).

DSVH còn được tiếp cận theo từng cấp độ từ thấp đến cao theo tuần tự: (1) DSVH của gia đình – dòng họ, (2) DSVH làng xã, (3) Di sản đô thị hay đô thị di sản, (4) Di sản ở cấp vĩ mô là lãnh thổ của một quốc gia dân tộc được cộng đồng các dân tộc cùng chung tay xây dựng và đồng lòng hy sinh máu xương, thậm chí cả tính mạng của mình để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ đó qua hàng ngàn năm lịch sử. 

Tính đa dạng và phức hợp trong DSVH đòi hỏi phải xác định rõ các mục tiêu và đối tượng cần được ưu tiên bảo tồn cũng như việc xây dựng hệ thống văn bản pháp quy và cơ chế chính sách đồng bộ cho các hoạt động bảo tồn DSVH.

2. Luật Di sản văn hoá cần được kịp thời sửa đổi, bổ xung và hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu bảo tồn DSVH trong quá trình phát triển mới của đất nước.

Luật Di sản văn hoá năm 2001, được sửa đổi bổ xung năm 2009 đã tạo ra động lực mới với hành lang pháp lý rộng mở để thu hút nguồn lực tổng hợp của toàn xã hội cho các hoạt động bảo tồn DSVH.

Luật Di sản văn hoá đã từng bước cụ thể hoá và pháp điển hoá các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan tới nhiều lĩnh vực DSVH. Ngay trong lời mở đầu của Luật Di sản văn hoá, Quốc hội đã khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”. Đó chính là sự tiếp nối tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Sắc lệnh số 65 ngày 23/11/1945 về bảo tồn cổ tích trong toàn cõi Việt Nam là “Xét rằng việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần trong công cuộc kiến thiết nước Việt Nam”. Quán triệt quan điểm nhận thức như vậy, ngành Văn hoá đã triển khai đồng bộ các mặt hoạt động bảo tồn DSVH phục vụ thiết thực nhu cầu phát triển đất nước và đã đạt được những thành tích đáng ghi nhận sau đây:

Thứ nhất các DSVH có giá trị lịch sử và văn hoá đã được đặt dưới sự bảo hộ của Luật Di sản văn hoá và các Công ước của UNESCO mà Việt Nam đã tham gia. Trong số gần 40 ngàn di tích đã được kiểm kê theo quy định của Luật Di sản văn hoá có 10 ngàn di tích cấp tỉnh,thành phố; 3601 di tích quốc gia, trong đó có 123 di tích quốc gia đặc biệt, 8 di tích của Việt Nam được UNESCO ghi danh là di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới, trong số gần 70 ngàn DSVHPVT được kiểm kê có 433 di sản được đưa vào Danh mục DSVHPVT quốc gia, 14 di sản được UNESCO ghi danh (13 di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại và 01 di sản văn hoá phi vật thể trong danh sách cần được bảo vệ khẩn cấp), trong số gần 4 triệu hiện vật đang lưu giữ trong các bảo tàng công lập, bảo tàng ngoài công lập và các bộ sưu tập tư dân có 238 hiện vật và nhóm hiện vật được Thủ tướng Chính phủ công nhận là bảo vật quốc gia, từ năm 2015 đến 2022 thực hiện Nghị định số 62/2014/NĐ-CP đã có 131 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân và 1.507 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú. 

Thứ hai, triển khai Luật di sản văn hoá, chính phủ đã có quyết định số 156/2005/QĐ-TTg ngày 23/6/2005 phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng Việt Nam với mạng lưới gồm: Bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành thuộc các Bộ, ngành ở Trung ương, bảo tàng tỉnh thành phố và bảo tàng ngoài công lập. Đến năm 2002, trên phạm vi cả nước đã có 128 bảo tàng công lập, 66 bảo tàng ngoài công lập và hàng loạt các bộ sưu tập tư nhân chưa được thống kê đầy đủ. Luật cho phép tư nhân/chủ sở hữu sưu tập hiện vật xây dựng bảo tàng ngoài công lập là một hình thức xã hội hoá các hoạt động bảo tàng. Hiện tượng tư nhân hiến tặng cổ vật cho các bảo tàng công lập hoặc phối hợp với bảo tàng công lập tổ chức các đợt triển lãm chuyên đề tạo cơ hội cho đông đảo công chúng tiếp cận và hưởng thụ các giá trị DSVH đã trở nên phổ biến. Cá biệt còn có các doanh nghiệp chủ động tham gia đấu giá “cổ vật ở nước ngoài và hồi hương trở lại Việt Nam cũng đáng được quan tâm”.

Thứ ba, thông qua chương trình mục tiêu quốc gia về chống xuống cấp, tôn tạo di tích, chương hỗ trợ bảo tồn DSVH với mục tiêu ưu tiên: Các di tích lịch sử, cách mạng, kháng chiến, các di tích lịch sử - văn hoá tiêu biểu đang bị xuống cấp, các di tích sau khi tu bổ, tôn tạo có khả năng phát huy giá trị gắn với du lịch văn hoá, đặc biệt là ưu tiên đầu tư cho các di tích ở vùng núi, biên giới, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và vùng sâu vùng xa. Nhà nước đã đầu tư những khoản ngân sách khá lớn cho mục tiêu bảo tồn DSVH: giai đoạn 2001 – 2005 đầu tư 518,35 tỷ đồng cho 533 di tích, giai đoạn 2006 – 2010 đầu tư 1,510,47 tỷ đồng cho 1,218 di tích, giai đoạn 2011- 2018 đầu tư 245 tỷ đồng cho 471 di tích. Ngoài ra phải kể tới hàng ngàn tỷ đồng được huy động từ sự tự nguyện đóng góp của cộng đồng cư dân các địa phương cũng như vốn hỗ trợ từ UNESCO. Phải khẳng định, nhờ có sự nỗ lực chung của toàn xã hội theo phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm” rất nhiều di tích lịch sử - văn hoá đã được tu bổ, tôn tạo để trở thành tài nguyên nhân văn có tiềm năng thúc đẩy sự phát triển của du lịch Việt nam có những bước tiến mới. Theo Tổng cục trưởng Tổng cụ Di lịch Nguyễn Trùng Khánh: năm 2019, du lịch Việt Nam đã đạt được kỳ tích “vàng” về tăng trưởng. Chúng ta đã đón được hơn 18 triệu lượt khách quốc tế và 85 triệu lượt khách nội địa với tổng thu đạt khoảng 720,000 tỷ Việt Nam đồng 4. Con số kỷ lục tăng trưởng du lịch nói trên là bằng chứng sống động về hiệu quả công tác bảo tồn DSVH trên cả nước đã đóng góp vào thành tích chung của ngành Du lịch Việt Nam. Chừng mực nào đó có thể nói, việc đầu tư cho bảo tồn DSVH đã tạo ra động lực thực sự cho phát triển du lịch. 

Đến đây có thể khẳng định, cùng với các hoạt động khác trong lĩnh vực văn hoá, hoạt động bảo tồn DSVH cũng có những đóng góp xứng đáng vào thành tựu chung của cả nước trong hơn 30 năm đổi mới. Tuy nhiên, trong giai đoạn cách mạng mới, thực tế đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới hơn nữa nhằm phát huy cao độ năng lực tinh thần của con người Việt Nam cả về trí tuệ, đạo đức tâm hồn và khát vọng cống hiên góp phần đưa đất nước phát triển phồn vinh và hạnh phúc. Vậy, rất cần phải điều chỉnh và hoàn thiện Luật Di sản văn hoá năm 2001, bổ xung sửa chữa năm 2009 để bảo tồn DSVH Việt Nam thực sự gắn kết với phát triển bền vững. 

3. Luật Di sản văn hoá phải pháp điển hoá và cụ thể hoá một cách đồng bộ hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực DSVH

Mục tiêu lớn của các chính sách cần được luật hoá là: (1) xử lý hài hoà mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, giữa truyền thống và hiện đại, giữa quốc gia và quốc tế, đặc biệt là những vấn đề liên quan tới quyền văn hoá, quyền chủ thể, quyền con người để cơ chế thị trường có thể vận hành có hiệu quả cao trong lĩnh vực văn hoá nói chung và bảo tồn DSVH nói riêng, (2) có cách tiếp cận liên ngành và hệ thống để sửa đổi, bổ xung các điều luật có liên quan tới tất cả các lĩnh vực DSVH (DSVHPVT, DSVHVT, di tích, bảo tàng, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu …), tạo hành lang pháp lý rộng mở và cơ hội thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân, các nghệ nhân dân gian, các cộng đồng cư dân địa phương có sáng tạo trong các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH gắn với phát triển các ngành công nghiệp văn hoá có tiềm năng lớn của Việt Nam.

Trong giai đoạn phát triển mới, muốn đạt được các mục tiêu lớn đặt ra trong chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2030, cần thiết phải có các chính sách đồng bộ để nâng cao quyền thống nhất nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn DSVH theo hướng thực hiện phân cấp, phân quyền giữa cơ quan trung ương và cơ quan quản lý các cấp chính quyền tại địa phương, tạo cơ chế phối hợp giữa các Bộ ngành thuộc Chính phủ và UBND các cấp, phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan, tổ chức được giao trách nhiệm quản lý DSVH, đặc biệt là các chủ sở hữu (cộng đồng, cá nhân, dòng họ) về DSVH.

Tăng cường nguồn lực đầu tư ngân sách của nhà nước tạo cú hích lớn trong các hoạt động bảo tồn DSVH là một chính sách cần được thực hiện theo các thứ tự ưu tiên là: (1) huy động các phương tiện thông tin đại chúng vào việc tuyên truyền phổ biến pháp luật liên quan tới DSVH, mở rộng chương trình giáo dục DSVH nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng xã hội về vai trò của DSVH trong phát triển bền vững, (2) đầu tư cho việc đào tạo nâng cao năng lực của các nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn DSVH (nghiên cứu, quản lý, nghiệp vụ và chủ thể thực hành văn hoá), (3) đầu tư các chương trình, quy hoạch, dự án bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hoá với tư cách là một thiết chế đa năng (thiết chế tôn giáo – tín ngưỡng, thiết chế văn hoá ở cơ sở, không gian văn hoá công cộng và sáng tạo, tài nguyên nhân văn – hạt nhân cho việc sáng tạo các sản phẩm du lịch hấp dẫn), các đề án bảo tồn DSVHPVT, hỗ trợ các nghệ nhân thực hành DSVHPVT ở các không gian (đô thị di sản, di sản văn hoá làng, di sản văn hoá gia đình – dòng họ) văn hoá ngay tại địa phương, (4) đầu tư cho việc xây dựng hệ thống dữ liệu di sản văn hoá bằng công nghệ số, (5) đầu tư cho việc nâng cấp, chỉnh lý nội dung trưng bày của các bảo tàng đang hoạt động theo hướng khai thác thế mạnh của thiết bị kỹ thuật hiện đại và công nghệ số. Đồng thời có kế hoạch xây dựng các bảo tàng mới để hoàn chỉnh từng bước hệ thống mạng lưới bảo tàng trong cả nước.

Có chính sách ưu tiên nhằm huy động tối đa các nguồn lực xã hội (cá nhân, tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp) tự nguyện phát huy sáng kiến, ý tưởng và đóng góp công sức, kinh phí cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH như: chính sách về dất đai (cho bảo tàng ngoài công lập), chính sách về thuế cho các doanh nghiệp đóng góp tài chính cho việc tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá. Cho phép thành lập các Quỹ di sản văn hoá ở các địa phương (Huế là một trường hợp điển hình). Rất cần khuyến khích thể nghiệm hình thức “hợp tác công – tư” trong bảo tồn di tích, trong đó có sự tham gia của cơ quan quản lý, các nhà khoa học, cộng đồng cư dân địa phương và các doanh nghiệp kinh doanh du lịch có liên quan tới DSVH.
Bảo tồn DSVH là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, nhng pháp luật và chính sách bao giờ cũng là “bà đỡ” kiến tạo cơ hội, và định hướng cho các hoạt động đạt được chất lượng và hiệu quả cao nhất.  

Tài liệu tham khảo:

1. Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Trang thông tin Đảng - Đoàn thể của Đảng bộ Bộ Tư pháp. Truy cập 25/8 năm 2022.

2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. NXB chính trị - quốc gia, Hà nội 2016, tr126.

3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Văn phòng Trung ương Đảng, NXB Chính trị - Quốc gia Sự thật Hà Nội 2014, tr 48 - 49.

4. Năm 2019, du lịch Việt Nam đạt kỳ tích “vàng” tăng trưởng. Website tin tức Thông tấn xã Việt Nam, truy cập ngày 01/01/2020.

PGS.TS Đặng Văn Bài
Bạn đang đọc bài viết "Bàn về chính sách đầu tư cho hoạt động bảo tồn di sản văn hoá" tại chuyên mục Phát triển. Chuyên trang của Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển.