Hành trình cách mạng và dấu mốc lịch sử trở về Tổ quốc năm 1941 của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc

28/01/2026 08:17

Theo dõi trên

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, hành trình tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là một quá trình bền bỉ, sáng tạo và giàu ý nghĩa thời đại. Từ năm 1911, với khát vọng giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, Người đã rời Tổ quốc, bôn ba qua nhiều châu lục, tiếp thu tinh hoa tư tưởng tiến bộ của nhân loại và đặc biệt là chủ nghĩa Mác - Lênin. Sau ba mươi năm hoạt động không mệt mỏi vì sự nghiệp cách mạng, đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước.

Sự kiện lịch sử trọng đại này không chỉ đánh dấu bước ngoặt quyết định của cách mạng Việt Nam mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh chính trị và lòng yêu nước sâu sắc của Người. Đây chính là tiền đề quan trọng dẫn tới những thắng lợi vĩ đại sau này của cách mạng Việt Nam.

2024128103748-145843-1769562740.jpg
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước lãnh đạo cách mạng là sự kiện lịch sử quan trọng mở ra thời kỳ phát triển mới của dân tộc Việt Nam. Ảnh: Tư liệu

Hành trình 30 năm con đường cách mạng của Nguyễn Ái Quốc (1911-1941)

Hành trình ba mươi năm tìm đường cứu nước và hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc (1911-1941) là một quá trình lịch sử đặc biệt, thể hiện trí tuệ, bản lĩnh và ý chí kiên cường của một nhà cách mạng vĩ đại. Đây không chỉ là hành trình địa lý vượt qua nhiều châu lục mà còn là hành trình nhận thức và lựa chọn con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam trong bối cảnh lịch sử đầy biến động của đầu thế kỷ XX.

Ngày 5-6-1911, với tên gọi Văn Ba, Người đã rời bến cảng Nhà Rồng, bắt đầu cuộc ra đi tìm con đường giải phóng dân tộc. Khác với các sĩ phu yêu nước đương thời chủ trương dựa vào cải cách hoặc cầu viện ngoại bang, Người lựa chọn con đường tự mình khảo nghiệm thực tiễn thế giới với một niềm tin và tinh thần ra đi để tìm đến con đường mới, tầm nhìn và sự hiểu biết mới, như chính lời Người đã nói với nhà báo Liên Xô Ôxip Manđenxtam: "Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế... Nhưng trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người như dạy con vẹt. Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì phải làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài"(1).

Trong hành trình cứu nước, lúc đầu Người làm nghề phụ bếp, rồi sau đó là công nhân trên tàu buôn Pháp. Nhờ đó, Người có dịp qua nhiều quốc gia như: Xingapo, Côlômbô, Aicập, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Angiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Mỹ. Đầu năm 1913, Người từ Mỹ về Lơ Havơrơ, sau đó sang Anh. Tại đây, Người làm nghề đốt lò, quét tuyết, phục vụ khách sạn. Bất kỳ hoàn cảnh nào, Người thường xuyên chú ý tìm hiểu đời sống và gần gũi với người lao động. Người rất xúc động trước điều kiện sống cực khổ và bị đàn áp của người da đen. Sau những tháng năm trải nghiệm cuộc sống người dân thuộc địa làm thuê, Người dần dần nhận ra một điều: ở đâu cũng có người nghèo và sự giàu nghèo không phụ thuộc vào màu da, chủng tộc. Người lao động ở đâu cũng khổ cực và biết thương yêu nhau.

Giai đoạn hoạt động tại Pháp (1917-1923) đánh dấu bước phát triển quan trọng trong nhận thức chính trị của Nguyễn Ái Quốc. Tại đây, Người tham gia phong trào công nhân và phong trào xã hội chủ nghĩa, đồng thời tích cực đấu tranh trên mặt trận báo chí và nghị trường. Năm 1919, với bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi tới Hội nghị Versailles, Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên đưa vấn đề dân tộc Việt Nam ra trước dư luận quốc tế. Mặc dù bản yêu sách không được chấp nhận, nhưng sự kiện này đã khẳng định bước trưởng thành về tư tưởng chính trị của Người và mở đầu cho quá trình đấu tranh công khai vì quyền tự quyết của dân tộc.

Sự kiện cực kỳ quan trọng làm chuyển biến cơ bản nhận thức con đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Người là khi đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin đăng trên báo Nhân đạo (L’Humanité) tháng 7-1920. Luận cương đã mang lại cho Người ánh sáng về con đường cách mạng giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa. Khẳng định ý nghĩa to lớn của Luận cương trong hành trình tìm ra con đường cứu nước, Người viết: "Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta"(2).

Năm 1920, tại Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ đây, Người khẳng định con đường giải phóng dân tộc Việt Nam phải gắn liền với cách mạng vô sản, độc lập dân tộc phải đi đôi với chủ nghĩa xã hội. Đây là kết quả của sự kết hợp sáng tạo giữa lý luận cách mạng khoa học và thực tiễn phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa.

Trong những năm tiếp theo, Nguyễn Ái Quốc hoạt động sôi nổi trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Người đến Liên Xô, tham gia Quốc tế Cộng sản, nghiên cứu lý luận, tổng kết kinh nghiệm cách mạng thế giới và viết nhiều tác phẩm quan trọng như Bản án chế độ thực dân Pháp, góp phần tố cáo bản chất tàn bạo của chủ nghĩa thực dân và thức tỉnh các dân tộc bị áp bức. Những tác phẩm này không chỉ có giá trị lý luận mà còn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, định hướng cho phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa.

Từ năm 1924, Nguyễn Ái Quốc chuyển hướng hoạt động về châu Á, trực tiếp chuẩn bị các điều kiện cho cách mạng Việt Nam. Tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, đào tạo cán bộ, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước thông qua các lớp huấn luyện và hệ thống báo chí cách mạng. Đây là giai đoạn đặt nền móng tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đỉnh cao của quá trình chuẩn bị đó là việc Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đầu năm 1930, dẫn đến sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam, chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo. Mặc dù sau đó Người tiếp tục hoạt động trong điều kiện vô cùng khó khăn, bị giam giữ và theo dõi gắt gao, nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn kiên định mục tiêu cách mạng, luôn hướng về Tổ quốc.

Dấu mốc lịch sử của sự kiện lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước năm 1941 đối với cách mạng Việt Nam

Sự kiện lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc vào đầu năm 1941 là một dấu mốc lịch sử có ý nghĩa đặc biệt to lớn đối với tiến trình cách mạng Việt Nam. Sau 30 năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, sự trở về của Người không chỉ mang ý nghĩa cá nhân mà còn đánh dấu bước chuyển căn bản của cách mạng Việt Nam từ giai đoạn chuẩn bị sang giai đoạn trực tiếp lãnh đạo và tổ chức đấu tranh giành chính quyền. Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước diễn biến phức tạp, sự kiện này thể hiện tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh chính trị và vai trò không thể thay thế của Nguyễn Ái Quốc đối với vận mệnh dân tộc.

Trước hết, sự trở về của Nguyễn Ái Quốc năm 1941 đã tạo điều kiện để Người trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đưa ra những quyết sách chiến lược mang tính bước ngoặt. Tại Pác Bó (Cao Bằng), Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 5 năm 1941). Hội nghị đã hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của cách mạng Việt Nam, xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, tạm gác các nhiệm vụ cách mạng ruộng đất và đấu tranh giai cấp. Bởi vì: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(3). Đây là quyết định có ý nghĩa sống còn, thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết trong giai đoạn lịch sử đặc biệt.

Thứ hai, sự kiện Nguyễn Ái Quốc về nước năm 1941 có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng và củng cố mặt trận dân tộc thống nhất. Trên cơ sở nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, Người sáng lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh). Mặt trận Việt Minh ra đời đã tập hợp, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, đảng phái, cùng chung mục tiêu giành độc lập dân tộc. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy cách mạng của Đảng, khắc phục tình trạng cô lập, thu hẹp lực lượng, đồng thời tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn cho phong trào đấu tranh cách mạng trong cả nước.

Bên cạnh đó, sự trở về của Nguyễn Ái Quốc đã góp phần trực tiếp xây dựng căn cứ địa cách mạng và chuẩn bị lực lượng cho khởi nghĩa vũ trang. Từ Cao Bằng, Người chỉ đạo xây dựng các căn cứ cách mạng, phát triển lực lượng chính trị quần chúng, tổ chức các đội vũ trang tuyên truyền và từng bước hình thành thế trận cách mạng rộng khắp. Những hoạt động này có ý nghĩa chiến lược lâu dài, tạo tiền đề cho sự ra đời của Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và quá trình chuẩn bị tổng khởi nghĩa sau này. 

Một ý nghĩa quan trọng khác của sự kiện Nguyễn Ái Quốc về nước năm 1941 là sự thống nhất giữa tư tưởng, đường lối và tổ chức lãnh đạo cách mạng. Với uy tín chính trị và kinh nghiệm quốc tế phong phú, Người đã củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân vào thắng lợi của cách mạng. Sự có mặt của Nguyễn Ái Quốc trong nước không chỉ là trung tâm lãnh đạo mà còn là biểu tượng tinh thần, tạo động lực to lớn thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ, sâu rộng và bền vững hơn. Đồng thời, sự kiện này còn thể hiện rõ mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong tư duy cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Những tư tưởng, quan điểm mà Người đã hình thành trong suốt ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài nay được kiểm nghiệm và phát huy giá trị trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Việc xác định đúng thời cơ, đề ra chiến lược phù hợp và tổ chức thực hiện hiệu quả đã chứng minh tính đúng đắn của con đường cách mạng giải phóng dân tộc mà Người lựa chọn.

Giá trị lý luận và thực tiễn của sự kiện Nguyễn Ái Quốc về nước năm 1941

Về giá trị lý luận:

Sự kiện Nguyễn Ái Quốc về nước năm 1941 khẳng định sinh động rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là hệ thống lý luận khép kín, bất biến, mà là học thuyết mở, có khả năng được vận dụng linh hoạt, sáng tạo tùy thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia, dân tộc. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời vượt qua lối tư duy giáo điều, máy móc, để đưa ra những quyết sách chiến lược phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Điều này góp phần bổ sung và phát triển lý luận Mác - Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.

Một giá trị lý luận quan trọng khác là việc làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp. Từ thực tiễn Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định giải phóng dân tộc là điều kiện tiên quyết để giải phóng giai cấp, qua đó phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện các nước thuộc địa nửa phong kiến. Nhận thức này không chỉ có ý nghĩa đối với cách mạng Việt Nam, mà còn đóng góp vào kho tàng lý luận cách mạng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Bên cạnh đó, sự kiện năm 1941 còn góp phần hình thành và hoàn thiện tư tưởng Hồ Chí Minh, bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những quan điểm về độc lập dân tộc, đại đoàn kết toàn dân, xây dựng lực lượng cách mạng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại,… được Nguyễn Ái Quốc đề xuất và triển khai từ khi về nước đã trở thành những luận điểm cơ bản, có giá trị lâu dài trong lý luận cách mạng. Đây là minh chứng cho sự phát triển sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lênin trên nền tảng thực tiễn phong phú của Việt Nam.

Về giá trị thực tiễn và bài học vận dụng hiện nay:

Về phương diện thực tiễn, sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin từ sự kiện lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước năm 1941 để lại nhiều bài học có giá trị sâu sắc đối với công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. i) Là bài học về kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời không ngừng đổi mới tư duy lý luận, xuất phát từ thực tiễn sinh động của đất nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc giữ vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời vận dụng sáng tạo vào điều kiện mới, là yêu cầu có ý nghĩa sống còn đối với sự lãnh đạo của Đảng. ii) Phải luôn đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, trước hết, đồng thời giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Thực tiễn hiện nay cho thấy, nếu không xuất phát từ lợi ích căn bản của dân tộc, không gắn bó chặt chẽ với nhân dân, thì mọi chủ trương, đường lối đều khó có thể đi vào cuộc sống. Đây chính là sự kế thừa và phát triển tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc được Hồ Chí Minh khởi xướng từ năm 1941. iii) Bài học về gắn lý luận với thực tiễn, chống chủ nghĩa giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Sự thành công của cách mạng Việt Nam giai đoạn 1941-1945 cho thấy chỉ khi nào lý luận được kiểm nghiệm và bổ sung từ thực tiễn thì mới phát huy được sức sống và giá trị của nó. Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang đứng trước nhiều vấn đề mới, phức tạp, việc tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở nên cấp thiết. iv) Ngoài ra, sự kiện Nguyễn Ái Quốc về nước năm 1941 còn để lại bài học sâu sắc về phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Trong điều kiện hiện nay, việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng; phát huy vai trò làm chủ của nhân dân… chính là sự vận dụng sáng tạo những bài học lịch sử đó vào thực tiễn mới.

Tóm lại, hành trình ba mươi năm tìm đường cứu nước và sự kiện lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc năm 1941 là hai phương diện thống nhất, phản ánh quá trình hình thành, phát triển và hiện thực hóa con đường cách mạng Việt Nam. Từ việc tiếp thu tinh hoa tư tưởng cách mạng của nhân loại đến sự vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đất nước, Nguyễn Ái Quốc đã xác lập và trực tiếp lãnh đạo đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn. Sự trở về năm 1941 không chỉ mang ý nghĩa lịch sử đặc biệt mà còn mở ra giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam, tạo tiền đề quyết định cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Giá trị tư tưởng và thực tiễn của sự kiện này tiếp tục là bài học sâu sắc về tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh chính trị và vai trò của lãnh tụ đối với vận mệnh dân tộc.

Chú thích:

(1). Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.447. 

(2). Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.127.

(3). Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.LLCTQG, H.2000, t.7, tr.113.

TS. Nguyễn Văn Điều - Trường Chính trị Nghệ An
Bạn đang đọc bài viết "Hành trình cách mạng và dấu mốc lịch sử trở về Tổ quốc năm 1941 của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc" tại chuyên mục Phát triển. Chuyên trang của Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển.