Thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển tương xứng với tiềm năng: tiếp cận từ quản trị nguồn lực, liên kết chuỗi giá trị và đổi mới thể chế tại TP.HCM

21/10/2026 16:26

Theo dõi trên

Với lợi thế về thị trường, doanh nghiệp, nguồn nhân lực sáng tạo và không gian phát triển sau sáp nhập, TP.HCM có nhiều điều kiện để đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả tiềm năng, Thành phố cần hoàn thiện thể chế, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị, phát triển tài sản trí tuệ và gắn thương mại hóa sản phẩm văn hóa với bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa bền vững.

4-1790266604816196566572-1792574298.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn ảnh: Chinhphu.vn

Tóm tắt

Công nghiệp văn hóa ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế hiện đại, không chỉ tạo ra giá trị gia tăng, việc làm và nguồn thu mà còn góp phần bảo tồn di sản, phát huy bản sắc và nâng cao năng lực cạnh tranh của đô thị. Với lợi thế về quy mô thị trường, hệ thống doanh nghiệp, nguồn nhân lực sáng tạo và không gian phát triển sau sáp nhập, TP.HCM có nhiều điều kiện để trở thành trung tâm công nghiệp văn hóa có sức lan tỏa trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, việc chuyển hóa tiềm năng văn hóa thành giá trị kinh tế bền vững vẫn đặt ra những yêu cầu về thể chế, hạ tầng, quản trị tài sản trí tuệ, liên kết chuỗi giá trị và chất lượng nguồn nhân lực. Bài viết phân tích cơ sở phát triển công nghiệp văn hóa từ góc độ quản trị và kinh tế sáng tạo; đánh giá một số lợi thế, kết quả bước đầu và những vấn đề đặt ra tại TP.HCM; từ đó đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác nguồn lực văn hóa, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và gia tăng đóng góp của công nghiệp văn hóa vào tăng trưởng kinh tế đô thị.

Từ khóa: công nghiệp văn hóa; kinh tế sáng tạo; quản trị văn hóa; tài sản trí tuệ; liên kết chuỗi giá trị; TP.HCM.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh kinh tế tri thức và chuyển đổi số phát triển mạnh mẽ, văn hóa không còn chỉ được nhìn nhận như một lĩnh vực phục vụ đời sống tinh thần, mà ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Thông qua việc tổ chức các hoạt động sáng tạo, sản xuất, phân phối và thương mại hóa sản phẩm, dịch vụ văn hóa, công nghiệp văn hóa tạo ra giá trị kinh tế đồng thời góp phần lan tỏa bản sắc, thúc đẩy giao lưu xã hội và nâng cao sức hấp dẫn của các địa phương.

Đối với những đô thị lớn, công nghiệp văn hóa còn có khả năng tạo ra hiệu ứng liên ngành, kết nối văn hóa với du lịch, thương mại, công nghệ, giáo dục, truyền thông, kiến trúc và các dịch vụ đô thị. Một sản phẩm điện ảnh có thể mở ra thị trường cho du lịch trải nghiệm; một di sản văn hóa có thể trở thành cơ sở hình thành sản phẩm thiết kế, biểu diễn và quà tặng sáng tạo; một lễ hội có thể thúc đẩy hoạt động lưu trú, ẩm thực, vận tải và thương mại. Giá trị kinh tế vì thế không chỉ nằm trong sản phẩm văn hóa ban đầu mà còn được hình thành thông qua mạng lưới các hoạt động có liên quan.

TP.HCM là địa bàn có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển mô hình kinh tế này. Thành phố sở hữu thị trường tiêu dùng lớn, tập trung nhiều doanh nghiệp sáng tạo, cơ sở đào tạo, đội ngũ nghệ sĩ và nhân lực chuyên môn, đồng thời có hệ thống thương mại, truyền thông, tài chính và dịch vụ phát triển. Sau sáp nhập, không gian phát triển được mở rộng, tạo điều kiện tăng cường liên kết giữa trung tâm sáng tạo, khu vực sản xuất, chế tác, logistics, du lịch và phân phối.

Theo số liệu được báo cáo tại buổi làm việc giữa Đoàn khảo sát Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội với TP.HCM, tỷ trọng đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa vào GRDP Thành phố tăng từ 3,54% năm 2020 lên khoảng 5,7% năm 2025. Thành phố đặt mục tiêu nâng tỷ trọng này lên 7,2% vào năm 2030. Những chỉ tiêu trên cho thấy công nghiệp văn hóa đang được xác định là một trong những hướng phát triển kinh tế có ý nghĩa chiến lược.

Tuy nhiên, quy mô thị trường lớn hay sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp chưa tự động bảo đảm hiệu quả khai thác nguồn lực văn hóa. Vấn đề cốt lõi là phải hình thành được cơ chế quản trị phù hợp, kết nối các nguồn lực phân tán thành hệ sinh thái sáng tạo có năng lực sản xuất, thương mại hóa và cạnh tranh trên thị trường.

Từ thực tiễn đó, bài viết tập trung làm rõ những lợi thế của TP.HCM trong phát triển công nghiệp văn hóa, nhận diện các điểm nghẽn về thể chế và tổ chức thị trường, đồng thời đề xuất giải pháp thúc đẩy lĩnh vực này phát triển tương xứng với tiềm năng.

2. Cơ sở lý luận và cách tiếp cận nghiên cứu

2.1. Công nghiệp văn hóa trong mô hình phát triển kinh tế sáng tạo

Công nghiệp văn hóa có thể được tiếp cận như một hệ thống hoạt động kinh tế dựa trên sự kết hợp giữa sáng tạo, tri thức, kỹ năng, giá trị văn hóa và quyền sở hữu trí tuệ để hình thành sản phẩm, dịch vụ có khả năng lưu thông trên thị trường.

Khác với nhiều ngành kinh tế truyền thống, giá trị của công nghiệp văn hóa không chỉ phụ thuộc vào nguyên liệu, máy móc hay quy mô vốn đầu tư. Ý tưởng sáng tạo, năng lực thiết kế, nội dung, bản sắc văn hóa, uy tín thương hiệu và khả năng khai thác quyền sở hữu trí tuệ có thể quyết định đáng kể giá trị thương mại của sản phẩm.

Chẳng hạn, một tác phẩm âm nhạc không chỉ tạo doanh thu từ hoạt động biểu diễn mà còn có thể được khai thác thông qua bản ghi âm, bản quyền sử dụng, nền tảng số, quảng cáo, chương trình truyền hình và các sản phẩm phái sinh. Tương tự, một nhân vật hoạt hình có thể trở thành nền tảng phát triển phim, trò chơi điện tử, đồ lưu niệm và các hình thức cấp phép thương mại.

Đặc điểm này cho thấy công nghiệp văn hóa vận hành dựa trên khả năng tổ chức và khai thác tài sản trí tuệ trong thời gian dài. Năng lực sáng tạo là điều kiện khởi đầu, nhưng năng lực quản trị quyền, phát triển thị trường và phân phối giá trị mới quyết định khả năng duy trì lợi thế cạnh tranh.

Vì vậy, phát triển công nghiệp văn hóa cần vượt khỏi cách tiếp cận chỉ tập trung vào tổ chức sự kiện hoặc hỗ trợ từng sản phẩm riêng lẻ. Cần xây dựng một hệ sinh thái trong đó các chủ thể sáng tạo, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và đào tạo, nhà đầu tư, cơ quan quản lý cùng tham gia vào quá trình hình thành và phát triển giá trị.

2.2. Quản trị nguồn lực văn hóa theo hướng tạo giá trị bền vững

Nguồn lực văn hóa bao gồm di sản vật thể, di sản phi vật thể, tri thức bản địa, nghệ thuật, thiết kế, không gian sáng tạo, nguồn nhân lực, tài sản trí tuệ và các giá trị biểu tượng được cộng đồng hình thành, gìn giữ và phát triển.

Các nguồn lực này không tự động chuyển hóa thành sản phẩm có giá trị kinh tế. Quá trình chuyển hóa đòi hỏi những điều kiện như nhận diện tài nguyên, nghiên cứu nhu cầu thị trường, sáng tạo sản phẩm, tổ chức sản xuất, xác lập quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu, phát triển kênh phân phối và đánh giá hiệu quả khai thác.

Đối với di sản văn hóa, yêu cầu quản trị còn bao gồm bảo vệ tính xác thực, tôn trọng chủ thể văn hóa, bảo đảm quyền và lợi ích của cộng đồng, duy trì khả năng trao truyền các giá trị truyền thống. Nếu chỉ chú trọng khai thác thương mại mà xem nhẹ những yêu cầu này, hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa có thể dẫn đến thương mại hóa thiếu kiểm soát, làm suy giảm ý nghĩa xã hội và giá trị nguyên gốc của di sản.

Do đó, cần xem bảo tồn và phát triển là hai nhiệm vụ có quan hệ tương hỗ. Bảo tồn tạo nền tảng cho sáng tạo; sáng tạo mở ra những phương thức tiếp cận mới; còn nguồn thu hợp lý từ hoạt động khai thác có thể đóng góp trở lại cho công tác bảo tồn và nâng cao đời sống của cộng đồng.

2.3. Tiếp cận nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, tổng hợp thông tin công khai, phân tích chính sách và tiếp cận nghiên cứu trường hợp đối với TP.HCM. Các số liệu được sử dụng từ nội dung báo cáo tại buổi làm việc với Đoàn khảo sát Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, qua đó nhận diện xu hướng phát triển và những vấn đề quản trị đặt ra.

Phạm vi phân tích tập trung vào bốn khía cạnh: tiềm năng và nguồn lực phát triển; kết quả bước đầu và cấu trúc thị trường; những hạn chế về thể chế, tổ chức và năng lực cạnh tranh; giải pháp quản trị nhằm nâng cao hiệu quả phát triển công nghiệp văn hóa.

Do chưa có đầy đủ dữ liệu gốc về phương pháp thống kê, cơ cấu doanh thu và mức đóng góp của từng ngành, các số liệu được sử dụng trong bài cần được hiểu theo phạm vi báo cáo được cung cấp, không thay thế cho việc kiểm chứng bằng hệ thống thống kê chuyên ngành. Bài viết chủ yếu đưa ra phân tích định tính, chưa thực hiện kiểm định định lượng về quan hệ nhân quả giữa các yếu tố phát triển.

3. Tiềm năng và thực trạng phát triển công nghiệp văn hóa tại TP.HCM

3.1. Lợi thế về thị trường, doanh nghiệp và nguồn nhân lực

Sau sáp nhập, TP.HCM có diện tích tự nhiên khoảng 6.773 km² và quy mô dân số khoảng 14 triệu người theo số liệu được báo cáo. Quy mô này mở ra khả năng tổ chức thị trường văn hóa rộng lớn, đa dạng về nhu cầu và có sự khác biệt giữa các khu vực đô thị, công nghiệp, ven biển và các địa bàn có tiềm năng du lịch.

Thị trường lớn tạo điều kiện để doanh nghiệp thử nghiệm sản phẩm, mở rộng phân khúc khách hàng và phát triển các mô hình kinh doanh mới. Đây là lợi thế quan trọng đối với những ngành có chi phí đầu tư ban đầu cao hoặc phụ thuộc vào khả năng tiếp cận người tiêu dùng, chẳng hạn như điện ảnh, âm nhạc, trò chơi điện tử, nội dung số và thiết kế sáng tạo.

Bên cạnh đó, Thành phố tập trung nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa. Theo báo cáo được cung cấp, có khoảng 17.670 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực này, chiếm 7,74% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, tạo việc làm trực tiếp cho khoảng 97.000 lao động.

Những con số trên phản ánh quy mô đáng kể của khu vực doanh nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp và lao động mới thể hiện một phần năng lực của thị trường. Để đánh giá đầy đủ hơn, cần bổ sung các chỉ tiêu về doanh thu, năng suất lao động, tỷ lệ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, quy mô tài sản trí tuệ, doanh thu xuất khẩu và khả năng tham gia chuỗi giá trị quốc tế.

Một lợi thế khác là sự tập trung của các cơ sở đào tạo, đội ngũ sáng tạo, chuyên gia công nghệ và lao động có kỹ năng. Khi được kết nối hiệu quả, những nguồn lực này có thể thúc đẩy hình thành các nhóm sáng tạo liên ngành, phát triển sản phẩm mới và nâng cao chất lượng dịch vụ văn hóa.

Dù vậy, khả năng cung ứng nhân lực không chỉ được xác định bằng số lượng lao động. Công nghiệp văn hóa còn cần những vị trí chuyên môn về quản trị bản quyền, sản xuất nội dung, phân tích thị trường, quản lý dự án sáng tạo, phân phối số, quản trị thương hiệu và kinh doanh quốc tế. Việc nâng cao chất lượng nhân lực quản trị vì thế có ý nghĩa không kém đào tạo kỹ năng sáng tác và sản xuất.

3.2. Không gian phát triển mới và khả năng hình thành chuỗi giá trị liên vùng

Việc mở rộng không gian phát triển sau sáp nhập tạo điều kiện để TP.HCM tổ chức lại các hoạt động công nghiệp văn hóa theo hướng liên kết chức năng giữa các khu vực.

Theo định hướng được nêu trong báo cáo, khu vực trung tâm có thể tập trung vào sáng tạo, thiết kế, phát triển nội dung và các hoạt động dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Khu vực Bình Dương trước sáp nhập có thế mạnh về sản xuất, chế tác và năng lực công nghiệp. Trong khi đó, khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu trước sáp nhập có lợi thế về cảng biển, logistics, du lịch và kết nối thị trường.

Cách tiếp cận này mở ra khả năng hình thành chuỗi giá trị có tính bổ trợ. Ý tưởng và thiết kế có thể được phát triển tại các trung tâm sáng tạo; hoạt động sản xuất, chế tác được tổ chức tại những địa bàn có điều kiện phù hợp; còn phân phối, tổ chức sự kiện, du lịch trải nghiệm và xuất khẩu được kết nối với mạng lưới dịch vụ, thương mại và logistics.

Tuy nhiên, lợi thế địa lý chỉ có thể chuyển hóa thành hiệu quả kinh tế khi tồn tại cơ chế phối hợp giữa các địa phương, doanh nghiệp và cơ sở hạ tầng. Nếu thiếu quy hoạch liên kết, tiêu chuẩn chung và cơ chế chia sẻ lợi ích, việc mở rộng địa giới hành chính có thể chỉ làm tăng quy mô không gian mà chưa tạo ra chuỗi giá trị thống nhất.

Do đó, quản trị không gian công nghiệp văn hóa cần được thực hiện đồng thời trên ba phương diện: quy hoạch các cụm sáng tạo và sản xuất; kết nối giao thông, hạ tầng số và hạ tầng sự kiện; xây dựng cơ chế hợp tác giữa các chủ thể trong toàn bộ quá trình phát triển sản phẩm.

Hệ thống giao thông liên vùng, mạng lưới metro được định hướng phát triển và các không gian công cộng có thể hỗ trợ khả năng tiếp cận các địa điểm văn hóa, sự kiện và điểm đến du lịch. Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư cần được đánh giá dựa trên mức độ kết nối thực tế, khả năng tiếp cận của người dân, chi phí tổ chức hoạt động và tác động đối với doanh thu của các chủ thể sáng tạo.

3.3. Kết quả bước đầu và xu hướng mở rộng các ngành công nghiệp văn hóa

Theo số liệu được báo cáo, tỷ trọng đóng góp của công nghiệp văn hóa vào GRDP TP.HCM tăng từ 3,54% năm 2020 lên khoảng 5,7% năm 2025, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 14% mỗi năm. Thành phố đặt mục tiêu đạt tỷ trọng 7,2% GRDP vào năm 2030, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 12% mỗi năm.

Những chỉ tiêu này thể hiện định hướng nâng cao vai trò của công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế Thành phố. Tuy nhiên, để đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu, cần thống nhất phạm vi ngành được tính, phương pháp xác định giá trị gia tăng, giá so sánh, thời kỳ thống kê và cách phân loại các hoạt động có tính chất liên ngành.

Trong lĩnh vực điện ảnh, TP.HCM đã hình thành thị trường tương đối phát triển, với khoảng 930 cơ sở, doanh nghiệp hoạt động và hơn 100 nhà sản xuất phim hoạt động thường xuyên theo báo cáo. Ngành điện ảnh tạo việc làm cho khoảng 10.000 lao động, đồng thời tập trung nhiều doanh nghiệp sản xuất, phát hành và hệ thống rạp chiếu phim.

Điểm đáng chú ý là xu hướng chuyển từ sản xuất từng tác phẩm riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái nội dung. Trong mô hình này, một sản phẩm sáng tạo có thể được phát triển thành thương hiệu, khai thác thông qua nhiều kênh và mở rộng sang những loại hình khác. Khả năng quản trị tài sản trí tuệ vì thế trở thành một trong những yếu tố quyết định hiệu quả kinh doanh.

Ở lĩnh vực xuất bản, in và phát hành, Thành phố được báo cáo là một trong những trung tâm lớn của cả nước, với doanh thu toàn ngành duy trì khoảng 110.000 tỷ đồng mỗi năm trong giai đoạn 2020-2025. Trong lĩnh vực quảng cáo, doanh nghiệp ngày càng tham gia vào các chương trình văn hóa, nghệ thuật, lễ hội và sự kiện, góp phần mở rộng nguồn lực xã hội cho hoạt động sáng tạo.

Âm nhạc, biểu diễn nghệ thuật và tổ chức sự kiện cũng có điều kiện phát triển thông qua những chương trình có sức lan tỏa như Lễ hội Âm nhạc Quốc tế Hò Dô, Lễ hội Sông nước TP.HCM và Lễ hội Áo dài TP.HCM. Các sự kiện này có thể tạo hiệu ứng lan tỏa đến dịch vụ lưu trú, ẩm thực, vận tải, bán lẻ và du lịch nếu được tổ chức gắn với chiến lược phát triển sản phẩm và thị trường.

Trong khi đó, việc TP.HCM được UNESCO công nhận là Thành phố Sáng tạo trong lĩnh vực Điện ảnh mở ra cơ hội tăng cường hợp tác quốc tế, quảng bá hình ảnh và thu hút các dự án sản xuất phim. Để phát huy lợi thế này, Thành phố cần chuyển từ việc khai thác danh hiệu sang phát triển năng lực thực chất, bao gồm hệ thống bối cảnh quay, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, nhân lực chuyên môn, thủ tục hành chính thuận lợi và mạng lưới hợp tác quốc tế.

Du lịch văn hóa cũng có vai trò kết nối các nguồn lực di sản, nghệ thuật, ẩm thực và không gian đô thị. Việc kết hợp di sản với các hình thức trải nghiệm, biểu diễn, triển lãm và sản phẩm sáng tạo có thể giúp kéo dài thời gian lưu trú, mở rộng mức chi tiêu và tạo thêm sinh kế cho cộng đồng.

Nhìn tổng thể, các lĩnh vực công nghiệp văn hóa tại TP.HCM đã hình thành nền tảng thị trường và doanh nghiệp tương đối đa dạng. Vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là mở rộng số lượng hoạt động, mà còn phải nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, năng lực khai thác tài sản trí tuệ và khả năng tham gia các chuỗi giá trị có quy mô lớn.

4. Những hạn chế và thách thức trong quá trình phát triển

4.1. Thể chế và chính sách chưa theo kịp yêu cầu của nền kinh tế sáng tạo

Công nghiệp văn hóa liên quan đến nhiều lĩnh vực quản lý, từ văn hóa, đầu tư, tài chính, thuế, thương mại, công nghệ đến sở hữu trí tuệ và quản lý không gian công cộng. Sự giao thoa này đòi hỏi hệ thống chính sách phải bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch và có khả năng thích ứng với các mô hình kinh doanh mới.

Trong thực tiễn, một số hoạt động sáng tạo có thể gặp khó khăn khi tiếp cận địa điểm biểu diễn, sử dụng không gian công cộng, tổ chức sự kiện, huy động vốn hoặc khai thác tài sản công phục vụ mục tiêu văn hóa. Những vướng mắc về thủ tục và cơ chế phối hợp có thể làm tăng chi phí, kéo dài thời gian triển khai và giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Mặt khác, đặc điểm rủi ro của hoạt động sáng tạo khác với nhiều ngành sản xuất truyền thống. Một dự án phim, trò chơi điện tử hoặc sản phẩm nghệ thuật có thể cần thời gian dài để phát triển, trong khi kết quả thương mại chưa chắc chắn. Nếu cơ chế hỗ trợ chỉ dựa trên tiêu chí ngắn hạn hoặc tài sản bảo đảm truyền thống, các doanh nghiệp sáng tạo, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, sẽ khó tiếp cận nguồn vốn.

Do đó, cần hoàn thiện cơ chế chính sách theo hướng vừa tạo điều kiện cho sáng tạo và đầu tư, vừa bảo đảm trách nhiệm giải trình, hiệu quả sử dụng nguồn lực và quyền lợi của cộng đồng.

4.2. Hạn chế trong quản trị tài sản trí tuệ và thương mại hóa sản phẩm

Tài sản trí tuệ là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, việc tạo ra sản phẩm có chất lượng chưa đồng nghĩa với việc hình thành được giá trị kinh tế lâu dài.

Một số chủ thể sáng tạo có thể thiếu năng lực xác lập quyền, định giá tài sản trí tuệ, đàm phán hợp đồng, quản lý quyền sử dụng hoặc phát triển sản phẩm phái sinh. Khi quyền sở hữu và cơ chế phân chia lợi ích không rõ ràng, khả năng thu hút đầu tư và mở rộng thị trường sẽ bị hạn chế.

Trong môi trường số, việc phân phối nội dung xuyên biên giới tạo ra cơ hội tiếp cận khách hàng lớn hơn, nhưng đồng thời làm gia tăng yêu cầu về bảo vệ bản quyền, kiểm soát việc sử dụng nội dung và xây dựng mô hình doanh thu phù hợp.

Vì vậy, phát triển công nghiệp văn hóa cần gắn hoạt động sáng tạo với quản trị quyền sở hữu trí tuệ ngay từ giai đoạn hình thành dự án. Doanh nghiệp cần được hỗ trợ về pháp lý, quản trị hợp đồng, khai thác quyền và tiếp cận các kênh phân phối trong nước, quốc tế.

4.3. Liên kết giữa sáng tạo, sản xuất và thị trường còn là vấn đề cần ưu tiên

Một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa hiệu quả phải kết nối được người sáng tạo với nhà sản xuất, nhà đầu tư, đơn vị phân phối và người tiêu dùng. Nếu các khâu hoạt động tách rời, sản phẩm có thể thiếu nguồn vốn để phát triển, thiếu năng lực tiếp cận thị trường hoặc không khai thác hết tiềm năng thương mại.

Đối với TP.HCM, việc mở rộng không gian phát triển sau sáp nhập tạo thêm cơ hội liên kết nhưng đồng thời làm tăng yêu cầu phối hợp về quy hoạch, hạ tầng, thông tin thị trường và tổ chức sản xuất. Các khu vực có thế mạnh khác nhau cần được kết nối thông qua những chương trình và dự án cụ thể, thay vì chỉ dừng ở định hướng chung.

Bên cạnh đó, việc tổ chức các lễ hội và sự kiện văn hóa cần được gắn với kế hoạch phát triển sản phẩm, hệ thống phân phối và cơ chế đánh giá hiệu quả. Nếu chỉ tập trung vào số lượng sự kiện hoặc lượt người tham dự, Thành phố sẽ khó xác định đầy đủ tác động kinh tế, xã hội và khả năng duy trì thị trường sau khi chương trình kết thúc.

4.4. Yêu cầu về nguồn nhân lực, dữ liệu và đo lường hiệu quả

Nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa phải đáp ứng đồng thời yêu cầu chuyên môn sáng tạo và năng lực kinh doanh. Những lĩnh vực như điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, nội dung số và trò chơi điện tử cần đội ngũ có khả năng kết hợp nghệ thuật, công nghệ, quản trị dự án, phân tích dữ liệu và tiếp thị quốc tế.

Trong khi đó, công tác thống kê công nghiệp văn hóa cần phân biệt rõ số lượng doanh nghiệp, doanh thu, giá trị sản xuất và giá trị gia tăng. Đây là những chỉ tiêu khác nhau, không thể sử dụng thay thế cho nhau khi đánh giá đóng góp của ngành vào GRDP.

Chẳng hạn, doanh thu của doanh nghiệp du lịch văn hóa không đồng nhất với phần giá trị gia tăng do hoạt động văn hóa tạo ra. Tương tự, tổng doanh thu xuất bản, in và phát hành cần được xác định rõ phạm vi, tránh cộng gộp các giao dịch trung gian nhiều lần.

Vì vậy, xây dựng hệ thống dữ liệu chuyên ngành có phương pháp thống kê thống nhất là điều kiện quan trọng để đánh giá đúng thực trạng, xác định ngành có tiềm năng, theo dõi mục tiêu và phân bổ nguồn lực công hiệu quả.

5. Giải pháp thúc đẩy công nghiệp văn hóa TP.HCM phát triển tương xứng với tiềm năng

5.1. Hoàn thiện thể chế, tạo môi trường thuận lợi cho sáng tạo và đầu tư

Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý cho phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng đồng bộ với pháp luật về đầu tư, sở hữu trí tuệ, tài chính, thuế, đất đai, tài sản công và chuyển đổi số.

Việc nghiên cứu, xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa theo kiến nghị của TP.HCM cần hướng tới giải quyết những vấn đề đặc thù của lĩnh vực này, nhất là cơ chế hỗ trợ dự án sáng tạo, huy động nguồn lực xã hội, khai thác tài sản trí tuệ, sử dụng không gian văn hóa và bảo đảm quyền lợi của chủ thể sáng tạo.

Ở cấp địa phương, cần rà soát các quy trình liên quan đến cấp phép biểu diễn, tổ chức sự kiện, sản xuất phim, sử dụng không gian công cộng và hợp tác khai thác cơ sở văn hóa. Những thủ tục có thể chuẩn hóa cần được công khai về điều kiện, thời gian xử lý và trách nhiệm của cơ quan liên quan.

Đồng thời, cần phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước với hoạt động đầu tư, sản xuất và kinh doanh. Nhà nước giữ vai trò xây dựng chính sách, bảo đảm môi trường cạnh tranh, bảo vệ lợi ích công cộng và hỗ trợ những lĩnh vực có ý nghĩa xã hội; doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo chủ động tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường.

5.2. Xây dựng mô hình quản trị chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa liên vùng

TP.HCM cần phát triển công nghiệp văn hóa theo tư duy chuỗi giá trị, trong đó mỗi khu vực và mỗi chủ thể đảm nhiệm những chức năng phù hợp với lợi thế của mình.

Trên cơ sở liên kết không gian phát triển sau sáp nhập, Thành phố có thể nghiên cứu hình thành các cụm sáng tạo, sản xuất và dịch vụ văn hóa gắn với những ngành có khả năng tạo giá trị gia tăng cao. Các cụm này không nhất thiết phải được tổ chức hoàn toàn theo địa giới hành chính, mà cần dựa trên mối quan hệ thực tế giữa nguồn lực, doanh nghiệp, hạ tầng và thị trường.

Chẳng hạn, lĩnh vực điện ảnh có thể được tổ chức theo chuỗi gồm phát triển kịch bản, huy động vốn, sản xuất, hậu kỳ, phát hành, khai thác bản quyền và du lịch gắn với bối cảnh phim. Lĩnh vực thiết kế có thể kết nối nghiên cứu chất liệu, sáng tạo mẫu, sản xuất, xây dựng thương hiệu và phân phối. Đối với di sản văn hóa, chuỗi giá trị có thể bao gồm nghiên cứu, bảo tồn, số hóa, diễn giải di sản, phát triển sản phẩm trải nghiệm và phân phối dịch vụ.

Thành phố cần đóng vai trò điều phối, cung cấp thông tin, hỗ trợ kết nối và tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng, thủ tục, tiêu chuẩn và cơ chế hợp tác. Hiệu quả của mô hình liên kết cần được đánh giá thông qua tỷ lệ doanh nghiệp tham gia, giá trị giao dịch giữa các khâu, số lượng sản phẩm được thương mại hóa và mức độ gia tăng thu nhập của các chủ thể.

5.3. Phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển sản phẩm sáng tạo

Di sản văn hóa là nguồn lực quan trọng để tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm công nghiệp văn hóa. Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các đô thị, những giá trị lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, ẩm thực, phong tục và ký ức cộng đồng có thể trở thành nền tảng xây dựng thương hiệu địa phương.

Tuy nhiên, việc khai thác di sản cần được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu khoa học, tôn trọng chủ thể văn hóa và bảo đảm nguyên tắc bảo tồn. Không nên đồng nhất phát triển công nghiệp văn hóa với việc gia tăng các hoạt động thương mại tại di tích hoặc tổ chức lễ hội đơn thuần.

TP.HCM có thể thúc đẩy những mô hình kết hợp di sản với thiết kế, điện ảnh, triển lãm, biểu diễn nghệ thuật, xuất bản, du lịch trải nghiệm và nội dung số. Các sản phẩm cần được phát triển dựa trên câu chuyện có căn cứ, chất lượng chuyên môn và nhu cầu thực tế của thị trường.

Đối với di sản phi vật thể, cần chú trọng vai trò của nghệ nhân, cộng đồng nắm giữ di sản và cơ chế chia sẻ lợi ích. Việc sử dụng tri thức, hình ảnh, biểu tượng và thực hành văn hóa trong sản phẩm thương mại cần có sự tham gia phù hợp của chủ thể liên quan, bảo đảm quyền lợi và hạn chế nguy cơ làm sai lệch giá trị văn hóa.

Nguồn thu từ các hoạt động khai thác có thể được xem xét phân bổ cho công tác bảo tồn, truyền dạy, nghiên cứu và nâng cao đời sống cộng đồng. Đây là hướng tiếp cận giúp tạo lập mối quan hệ lâu dài giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế.

5.4. Đẩy mạnh chuyển đổi số và quản trị tài sản trí tuệ

Chuyển đổi số cần được xác định là hạ tầng phát triển của công nghiệp văn hóa, không chỉ là công cụ quảng bá. Công nghệ có thể tham gia vào toàn bộ chu trình từ nghiên cứu, sáng tạo, sản xuất, quản lý quyền, phân phối đến đánh giá hành vi tiêu dùng.

Thành phố cần thúc đẩy xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành về doanh nghiệp, cơ sở sáng tạo, địa điểm tổ chức sự kiện, bối cảnh quay phim, di sản và sản phẩm văn hóa. Hệ thống dữ liệu cần có tiêu chuẩn thống nhất, cơ chế cập nhật và quy định về quyền truy cập, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền sở hữu trí tuệ.

Đối với điện ảnh và nội dung số, việc phát triển cơ sở dữ liệu bối cảnh quay phim, thông tin về dịch vụ sản xuất, nhân lực và thủ tục liên quan có thể giảm chi phí tìm kiếm, tăng khả năng kết nối với các đoàn làm phim trong nước và quốc tế.

Bên cạnh đó, cần tăng cường hỗ trợ đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, quản trị hợp đồng, cấp phép sử dụng, định giá tài sản trí tuệ và phát triển thương hiệu. Những doanh nghiệp có năng lực khai thác quyền tốt có thể mở rộng doanh thu từ một sản phẩm ban đầu sang nhiều thị trường và loại hình kinh doanh khác nhau.

Thành phố cũng cần khuyến khích ứng dụng công nghệ trong sáng tạo và phân phối, đồng thời nâng cao năng lực quản trị rủi ro liên quan đến vi phạm bản quyền, sử dụng dữ liệu và công nghệ mới.

5.5. Phát triển doanh nghiệp sáng tạo và đa dạng hóa nguồn vốn

Doanh nghiệp là chủ thể quan trọng trong quá trình chuyển hóa ý tưởng thành sản phẩm và giá trị kinh tế. Vì vậy, chính sách phát triển công nghiệp văn hóa cần chú trọng nâng cao năng lực quản trị, khả năng huy động vốn và sức cạnh tranh của doanh nghiệp sáng tạo.

TP.HCM có thể nghiên cứu các chương trình hỗ trợ theo từng giai đoạn phát triển dự án, từ hình thành ý tưởng, xây dựng sản phẩm thử nghiệm đến sản xuất, thương mại hóa và mở rộng thị trường. Cách tiếp cận này giúp nguồn lực hỗ trợ được sử dụng phù hợp với nhu cầu thực tế, thay vì phân bổ dàn trải.

Đối với những dự án có tiềm năng nhưng khó đáp ứng yêu cầu tín dụng truyền thống, cần nghiên cứu cơ chế kết nối nhà đầu tư, quỹ đầu tư, doanh nghiệp phân phối và các đối tác chiến lược. Việc huy động vốn cần gắn với phương án kinh doanh, quyền sở hữu trí tuệ, năng lực quản trị và triển vọng thị trường.

Đề xuất thành lập Quỹ Phát triển Văn hóa, Nghệ thuật của Thành phố cần được nghiên cứu trên cơ sở xác định rõ mục tiêu, nguồn vốn, đối tượng thụ hưởng, tiêu chí lựa chọn dự án, cơ chế giám sát và phương thức đánh giá hiệu quả. Quỹ có thể ưu tiên những dự án tạo ra giá trị văn hóa rõ ràng, có khả năng huy động nguồn lực xã hội và hình thành sản phẩm có triển vọng thương mại.

Điều quan trọng là không đánh giá mọi dự án văn hóa chỉ bằng lợi nhuận ngắn hạn. Một số hoạt động có giá trị lớn về bảo tồn, giáo dục, tiếp cận văn hóa và phát triển cộng đồng cần được xem xét theo cơ chế phù hợp với mục tiêu công ích, đồng thời bảo đảm minh bạch và hiệu quả sử dụng nguồn lực.

5.6. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị sáng tạo

Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định khả năng chuyển hóa tiềm năng thành sản phẩm có chất lượng và sức cạnh tranh. Thành phố cần thúc đẩy liên kết giữa cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, tổ chức văn hóa và các đơn vị nghiên cứu để chương trình đào tạo gắn với nhu cầu thực tế của thị trường.

Bên cạnh kỹ năng nghệ thuật và chuyên môn kỹ thuật, cần chú trọng các năng lực về quản trị dự án, quản lý tài chính, phát triển thị trường, truyền thông số, sở hữu trí tuệ, phân tích dữ liệu và kinh doanh quốc tế.

Đối với đội ngũ quản lý văn hóa, yêu cầu đặt ra là chuyển từ tư duy quản lý hoạt động đơn lẻ sang quản trị hệ sinh thái, quản trị danh mục dự án và đánh giá tác động. Cán bộ quản lý cần có khả năng phối hợp liên ngành, sử dụng dữ liệu trong ra quyết định và thiết kế cơ chế hợp tác giữa khu vực công với khu vực tư.

Thành phố cũng cần tạo môi trường thuận lợi để thu hút chuyên gia, nhà sản xuất, nhà đầu tư và nhân lực sáng tạo quốc tế. Việc trao đổi chuyên môn, hợp tác sản xuất, đào tạo tại doanh nghiệp và tham gia mạng lưới sáng tạo quốc tế có thể góp phần nâng cao trình độ của nguồn nhân lực trong nước.

5.7. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê và cơ chế đánh giá hiệu quả

Một trong những điều kiện quan trọng để công nghiệp văn hóa phát triển bền vững là phải đo lường được kết quả. Thành phố cần phối hợp với cơ quan Trung ương xây dựng bộ chỉ tiêu thống kê chuyên ngành thống nhất, có khả năng phản ánh đầy đủ đóng góp kinh tế, văn hóa và xã hội.

Hệ thống chỉ tiêu cần phân biệt rõ doanh thu, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, đóng góp vào GRDP, việc làm, năng suất lao động và thu nhập từ xuất khẩu. Đồng thời, cần xác định phương pháp xử lý các hoạt động giao thoa giữa nhiều ngành để hạn chế tính trùng.

Bên cạnh những chỉ tiêu kinh tế, cần đánh giá các yếu tố như số lượng tài sản trí tuệ được khai thác thương mại, mức độ tham gia của doanh nghiệp nhỏ và vừa, khả năng tiếp cận văn hóa của người dân, mức đóng góp cho bảo tồn di sản và thu nhập của cộng đồng chủ thể.

Đối với các lễ hội, liên hoan phim và sự kiện văn hóa, việc đánh giá nên bao gồm chi phí tổ chức, doanh thu trực tiếp, tác động lan tỏa đến dịch vụ liên quan, mức độ hài lòng của người tham dự và hiệu quả quảng bá hình ảnh. Cần phân biệt doanh thu phát sinh trực tiếp với tác động kinh tế gián tiếp để tránh phóng đại kết quả.

Trên cơ sở dữ liệu đáng tin cậy, Thành phố có thể xây dựng cơ chế theo dõi mục tiêu đến năm 2030 theo từng ngành, từng giai đoạn và từng chương trình. Các kết quả đánh giá cần được sử dụng để điều chỉnh chính sách, ưu tiên nguồn lực và nâng cao trách nhiệm giải trình.

6. Một số kiến nghị chính sách

Để các giải pháp có thể triển khai đồng bộ, cần xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng chủ thể và lộ trình thực hiện.

Thứ nhất, đối với Quốc hội và cơ quan lập pháp, cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp luật cho phát triển công nghiệp văn hóa, bảo đảm sự thống nhất giữa chính sách văn hóa với đầu tư, tài chính, sở hữu trí tuệ và chuyển đổi số. Việc xây dựng luật chuyên ngành cần đi kèm đánh giá tác động chính sách, xác định rõ những cơ chế đặc thù và điều kiện tổ chức thực hiện.

Thứ hai, đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các bộ, ngành liên quan, cần sớm hoàn thiện bộ chỉ tiêu thống kê công nghiệp văn hóa, hướng dẫn phương pháp xác định giá trị gia tăng và xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông giữa Trung ương với địa phương. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế huy động nguồn lực xã hội, phát triển quỹ hỗ trợ và nâng cao năng lực quản trị tài sản trí tuệ.

Thứ ba, đối với chính quyền TP.HCM, cần cụ thể hóa mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa thành chương trình hành động có chỉ tiêu, nguồn lực, thời hạn và cơ quan chịu trách nhiệm. Thành phố cần ưu tiên những ngành có lợi thế cạnh tranh, có khả năng kết nối với các ngành kinh tế khác và có tiềm năng phát triển thị trường quốc tế.

Thứ tư, đối với doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo, cần nâng cao năng lực quản trị, chuyên nghiệp hóa quy trình sản xuất, bảo vệ tài sản trí tuệ và chủ động tham gia các mạng lưới hợp tác. Phát triển công nghiệp văn hóa không thể chỉ dựa vào nguồn lực ngân sách mà cần có sự tham gia thực chất của khu vực tư nhân, tổ chức xã hội và cộng đồng sáng tạo.

Thứ năm, đối với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu và tổ chức văn hóa, cần tăng cường nghiên cứu thị trường, phát triển nhân lực liên ngành và xây dựng cơ chế hợp tác với doanh nghiệp. Tri thức khoa học và dữ liệu thực chứng phải trở thành cơ sở cho quá trình hoạch định chính sách, thiết kế sản phẩm và đánh giá hiệu quả đầu tư.

7. Kết luận

TP.HCM có nhiều điều kiện để phát triển công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng trong giai đoạn mới. Quy mô thị trường lớn, hệ thống doanh nghiệp đa dạng, nguồn nhân lực sáng tạo và không gian phát triển mở rộng sau sáp nhập tạo cơ sở để Thành phố tăng cường liên kết giữa sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiêu dùng văn hóa.

Tuy nhiên, tiềm năng chỉ có thể chuyển hóa thành kết quả thực chất khi được hỗ trợ bởi một hệ thống thể chế đồng bộ, cơ chế quản trị hiệu quả, hạ tầng phù hợp, nguồn nhân lực chất lượng cao và năng lực khai thác tài sản trí tuệ. Việc gia tăng số lượng sự kiện, doanh nghiệp hay sản phẩm chưa đủ để bảo đảm công nghiệp văn hóa phát triển bền vững nếu thiếu khả năng tạo giá trị gia tăng và mở rộng thị trường.

Từ góc độ quản trị, định hướng quan trọng là chuyển từ khai thác từng nguồn lực riêng lẻ sang tổ chức hệ sinh thái công nghiệp văn hóa có tính liên kết; từ hỗ trợ hoạt động đơn lẻ sang phát triển chuỗi giá trị; từ đánh giá bằng quy mô đầu vào sang đo lường hiệu quả kinh tế, văn hóa và xã hội.

Đồng thời, phát triển công nghiệp văn hóa cần bảo đảm sự hài hòa giữa thương mại hóa và bảo tồn, giữa lợi ích doanh nghiệp và quyền lợi cộng đồng, giữa mục tiêu tăng trưởng và yêu cầu phát triển bền vững. Đây là cơ sở để TP.HCM không chỉ nâng cao tỷ trọng đóng góp của công nghiệp văn hóa vào GRDP mà còn từng bước khẳng định vị thế trung tâm sáng tạo, sản xuất và phân phối sản phẩm văn hóa có năng lực cạnh tranh trong khu vực và quốc tế.

Tài liệu tham khảo

1. Thủ tướng Chính phủ (2016), Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08/9/2016 về Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

2. UNESCO Institute for Statistics (2009), The 2009 UNESCO Framework for Cultural Statistics.

3. UNESCO (2022), Re|Shaping Policies for Creativity: Addressing Culture as a Global Public Good.

4. UNCTAD (2024), Creative Economy Outlook 2024.

5. Quốc hội (2022), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, Luật số 07/2022/QH15 ngày 16/6/2022.

6. Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM, báo cáo về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa tại TP.HCM.

ThS. Nguyễn Danh Hòa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển