Tại hội nghị về khơi thông nguồn lực tài chính – ngân hàng phục vụ tăng trưởng vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2026-2030, diễn ra chiều 23/10 tại TP.HCM, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, khu vực này có 15 dự án trọng điểm nằm trong nhóm 35 công trình, dự án quy mô lớn trên cả nước được áp dụng cơ chế tín dụng đặc thù. Tổng nhu cầu vốn vay dự kiến khoảng 757.000 tỷ đồng.
Đông Nam Bộ chiếm gần 35% dư nợ tín dụng cả nước
Theo thông tin được công bố tại hội nghị, Đông Nam Bộ tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Năm 2026, khu vực đóng góp 31,4% vào tăng trưởng chung của cả nước; trong 9 tháng đầu năm, GRDP của các địa phương trong vùng đều tăng cao hơn mức chung toàn quốc.
Đến cuối tháng 9/2026, tổng vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên cả nước đạt khoảng 19,5 triệu tỷ đồng, tăng 10,7% so với cuối năm 2025. Dư nợ tín dụng vượt 20,7 triệu tỷ đồng, tăng 11,7%.
Riêng Đông Nam Bộ, dư nợ tín dụng ước đạt gần 6,8 triệu tỷ đồng, tương đương gần 35% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Những con số này cho thấy nhu cầu vốn phục vụ phát triển hạ tầng, công nghiệp, năng lượng và các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của khu vực rất lớn trong giai đoạn tới.
Doanh nghiệp cần thêm cơ hội tiếp cận nguồn vốn
Bên cạnh nhu cầu vốn cho các dự án quy mô lớn, khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng là vấn đề được đặt ra tại hội nghị.
Theo ý kiến của đại diện Liên đoàn Doanh nghiệp TP.HCM, nguồn vốn của nền kinh tế hiện vẫn phụ thuộc đáng kể vào hệ thống ngân hàng. Trong khi đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp nhưng mới tiếp cận khoảng 20% tín dụng ngân hàng.
Một số khó khăn được nêu gồm yêu cầu về tài sản bảo đảm, lãi suất vay, hồ sơ pháp lý đối với đất đai và nhà xưởng, cũng như mức độ minh bạch của thông tin tài chính.
Đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tây Ninh cũng cho biết, nhu cầu vay vốn giữa các nhóm doanh nghiệp có sự khác biệt lớn: doanh nghiệp nhỏ và vừa thường cần khoản vay khoảng 20-30 tỷ đồng, trong khi doanh nghiệp lớn có thể cần từ 200 tỷ đồng đến 2.000 tỷ đồng.
Việc xây dựng các giải pháp tín dụng phù hợp với quy mô và đặc điểm hoạt động của từng nhóm doanh nghiệp vì vậy được xem là một trong những hướng cần quan tâm.
Đa dạng hóa nguồn vốn, tháo gỡ vướng mắc pháp lý
Tại hội nghị, các ý kiến đề xuất cần phát triển đồng bộ nhiều kênh huy động vốn, bao gồm thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường cổ phiếu và các quỹ đầu tư hạ tầng. Cùng với đó là nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính và khuyến khích doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đối với TP.HCM, Chủ tịch UBND Thành phố Nguyễn Văn Được cho biết, các vấn đề liên quan đến định giá đất, bồi thường và giải phóng mặt bằng đang được quan tâm trong quá trình hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai.
Thành phố cũng khuyến khích doanh nghiệp tổng hợp những vướng mắc về thủ tục, pháp lý và đầu tư thông qua các tổ chức đại diện để cơ quan chức năng xem xét, xử lý theo thẩm quyền. Việc công khai danh mục dự án trọng điểm kêu gọi đầu tư và tăng cường phối hợp giữa Nhà nước, ngân hàng, doanh nghiệp được xác định là những giải pháp nhằm khơi thông nguồn lực phát triển.
Một điểm đáng chú ý tại sự kiện là 18 thỏa thuận hợp tác giữa ngân hàng và doanh nghiệp đã được trao, liên quan đến các dự án và phương án kinh doanh thuộc lĩnh vực công nghiệp chế tạo, năng lượng, giao thông, khu công nghiệp, nhà ở xã hội cùng một số lĩnh vực quan trọng khác.
Hướng tín dụng vào sản xuất, kinh doanh
Kết luận hội nghị, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn đề nghị các tổ chức tín dụng chủ động cân đối nguồn vốn, ưu tiên các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Các ngân hàng được khuyến khích xây dựng chương trình cho vay với lãi suất hợp lý, tăng cường kết nối với doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả phân bổ tín dụng. Về phía các địa phương, cần phối hợp với ngành ngân hàng để tháo gỡ khó khăn liên quan đến đất đai, thủ tục và pháp lý dự án.
Với nhu cầu vốn vay khoảng 757.000 tỷ đồng cho 15 dự án trọng điểm, bài toán của Đông Nam Bộ không chỉ là huy động đủ nguồn lực mà còn là bảo đảm vốn được phân bổ hiệu quả, đúng mục đích và phù hợp với khả năng triển khai thực tế.
Việc kết hợp tín dụng ngân hàng với các kênh huy động vốn khác, đồng thời cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với mục tiêu phát triển bền vững của vùng trong giai đoạn 2026-2030.