Không chỉ dừng lại ở định hướng, Nghị quyết còn là lời kêu gọi mạnh mẽ đối với toàn thể đội ngũ trí thức, nhà khoa học và mọi tầng lớp nhân dân, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc ứng dụng công nghệ mới nhằm nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Trong hành trình ấy, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ giữ vai trò trung tâm - vừa là người đề xuất những sáng kiến chiến lược, vừa là lực lượng trực tiếp vận hành, chuyển giao và ứng dụng các thành tựu mới.
Với vai trò là tổ chức quần chúng được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ, có nhiệm vụ tập hợp lực lượng trí thức KH&CN cả nước, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) chính là cầu nối quan trọng giúp hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết, từ đó tạo xung lực mới cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN trong hệ thống Liên hiệp Hội Việt Nam
Liên hiệp Hội Việt Nam hiện tập hợp 126 hội thành viên cùng hơn 500 tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc, tạo thành một mạng lưới rộng khắp, vững chắc trên cả ba miền đất nước. Đây không chỉ là nơi quy tụ các nhà khoa học đầu ngành ở nhiều lĩnh vực khác nhau mà còn là diễn đàn để đội ngũ trí thức đóng góp tâm huyết, trí tuệ cho sự phát triển chung.
Có thể thấy, trí thức KH&CN tham gia sâu rộng vào công tác tham mưu, phản biện và xây dựng chính sách. Họ đã góp ý thẳng thắn, khoa học vào nhiều văn kiện, dự án luật quan trọng như Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, cũng như các báo cáo tổng kết những nghị quyết trọng đại về xây dựng đội ngũ trí thức và đổi mới giáo dục. Chính sự tham gia chủ động này đã giúp các cơ chế, chính sách ngày càng sát thực tiễn, tháo gỡ được những rào cản, tạo thuận lợi cho hoạt động KH&CN.
Không chỉ ở tầm vĩ mô, trí thức còn đóng vai trò quan trọng trong việc phổ biến tri thức, nâng cao dân trí và kỹ năng số cho cộng đồng. Bằng các hình thức phong phú như xuất bản sách báo, tổ chức hội thảo, tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông hay hướng dẫn kỹ thuật tại địa phương, đội ngũ này đã góp phần chuyển giao tiến bộ KH&CN vào sản xuất và đời sống, giúp người dân tiếp cận với nông nghiệp công nghệ cao, y tế dự phòng, bảo vệ môi trường và xây dựng nông thôn mới. Những hoạt động thầm lặng nhưng bền bỉ ấy đã góp phần không nhỏ vào công cuộc giảm nghèo và phát triển bền vững.
Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, đội ngũ trí thức KH&CN đã thể hiện rõ vai trò tiên phong khi trực tiếp tham gia xây dựng hạ tầng số, phát triển cơ sở dữ liệu dùng chung, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ lõi vào quản trị công, sản xuất và bảo vệ môi trường. Nhiều đề tài, dự án ứng dụng cao đã ra đời từ chính bàn tay và khối óc của trí thức, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao giá trị sản phẩm và đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.
Bên cạnh đó, các phong trào sáng tạo như Giải thưởng Sáng tạo KH&CN Việt Nam, Hội thi Sáng tạo kỹ thuật toàn quốc hay Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đổi mới, sáng kiến trong mọi tầng lớp nhân dân. Trí thức là hạt nhân dẫn dắt, đồng hành cùng người dân, thanh thiếu niên để biến các sáng kiến thành sản phẩm thực tế có giá trị, từ đó thúc đẩy ứng dụng rộng rãi các giải pháp kỹ thuật vào sản xuất và đời sống.
Để đội ngũ trí thức phát huy tối đa sức mạnh trong việc thực hiện Nghị quyết 57, cần tập trung vào ba nhóm giải pháp lớn, vừa mang tính nền tảng, vừa tạo đột phá ngay trong hệ thống Liên hiệp Hội Việt Nam.
Đổi mới tư duy và nâng cao nhận thức, cùng với xây dựng hạ tầng số
Trước hết phải tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức cho toàn hệ thống. Tư duy cũ, cách làm cũ cần được thay thế bằng tinh thần quyết liệt, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá. Công tác tuyên truyền về nội dung Nghị quyết 57 và Kế hoạch hành động của Liên hiệp Hội Việt Nam cần được triển khai đa dạng, sinh động qua báo chí, nền tảng số, mạng xã hội, hướng tới từng nhóm đối tượng cụ thể: cán bộ, hội viên, doanh nghiệp và người dân.
Bên cạnh đó, việc xây dựng hạ tầng số hiện đại là điều kiện tiên quyết. Liên hiệp Hội Việt Nam cần sớm hoàn thiện Đề án chuyển đổi số, đầu tư phát triển các hệ thống thông tin kết nối, liên thông văn bản, tạo ra môi trường số thống nhất giữa cơ quan Trung ương và các hội thành viên, đơn vị trực thuộc. Đồng thời, cần đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ, hội viên khuyến khích phong trào "học tập số" một cách thường xuyên, liên tục.
Nâng cao hiệu quả quản trị và thúc đẩy hoạt động KH&CN, đổi mới sáng tạo
Để hoạt động KH&CN thực sự bền vững và hiệu quả, cần thực hiện số hóa toàn diện cơ sở dữ liệu, kết nối, chia sẻ thông tin giữa các tổ chức, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong xử lý công việc và ra quyết định. Chỉ đạo, điều hành trực tuyến dựa trên dữ liệu sẽ giúp nâng cao hiệu lực quản trị, tăng cường tương tác giữa các nhà khoa học, hội viên, doanh nghiệp và người dân.
Về mặt chuyên môn, cần tăng cường kết nối các hội thành viên với doanh nghiệp, trường đại học và cơ quan nghiên cứu để đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ KH&CN, phát triển các sản phẩm có giá trị cao, thân thiện với môi trường, tham gia sâu vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Đặc biệt, cần tổng kết, đánh giá và nhân rộng các kết quả đạt được từ các giải thưởng, hội thi, hỗ trợ thương mại hóa sản phẩm KH&CN - đổi mới sáng tạo để đưa nhanh vào thực tiễn.
Tăng cường tư vấn phản biện, phổ biến tri thức và mở rộng hợp tác quốc tế
Nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện là nhiệm vụ mũi nhọn. Liên hiệp Hội Việt Nam cần chủ động phối hợp với các cơ quan hoạch định chính sách, phát hiện và đề xuất tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, các rào cản cản trở sự phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo. Đồng thời, cần nhận diện các ngành, lĩnh vực mới để định hướng nghiên cứu nhằm nâng cao nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào bên ngoài, xây dựng kinh tế độc lập, tự chủ.
Cùng với đó, việc phổ biến kiến thức khoa học công nghệ phải được đẩy mạnh, phải gắn với các phong trào học tập số, các chương trình phổ cập kỹ năng số cho người lao động và cộng đồng. Những mô hình hay, sáng kiến mới cần được kịp thời nhân rộng.
Cuối cùng, hội nhập quốc tế là cánh cửa để tiếp cận tri thức và nguồn lực. Liên hiệp Hội Việt Nam cần thiết lập các cơ chế hợp tác hiệu quả với các tổ chức phi chính phủ, các đối tác nước ngoài, tạo điều kiện để nhà khoa học tham gia hội nghị quốc tế, các chương trình nghiên cứu chung, từ đó hấp thụ và chuyển giao các thành tựu mới vào sản xuất và đời sống.
Theo vusta.vn
Link nội dung: https://phuongnam.vanhoavaphattrien.vn/khoi-day-suc-manh-doi-ngu-tri-thuc-thuc-hien-nghi-quyet-57-a31032.html