Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hóa từ thực tiễn Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn Di sản Văn hóa Quốc gia

Các tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động trong lĩnh vực lịch sử, văn hóa đang giữ vai trò ngày càng quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Thông qua nghiên cứu trường hợp Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn Di sản Văn hóa Quốc gia, bài viết làm rõ mô hình tổ chức, kết quả hoạt động và những vấn đề đặt ra trong bối cảnh đổi mới cơ chế quản lý khoa học, chuyển đổi số và tăng cường xã hội hóa, từ đó đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam.

cac-thanh-vien-ban-chu-nhiem-chup-anh-luu-niem-cung-ban-lanh-dao-trung-tam-1703237372-1783066374.jpg

TÓM TẮT

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và phát triển kinh tế tri thức, văn hóa ngày càng được khẳng định là nguồn lực nội sinh quan trọng của phát triển bền vững. Công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vì vậy không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn của các cơ quan quản lý nhà nước mà còn là trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ, các viện nghiên cứu và các trung tâm chuyên ngành. Bài viết tập trung nghiên cứu mô hình tổ chức và hoạt động của Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn Di sản Văn hóa Quốc gia trong giai đoạn từ khi thành lập đến năm 2025; phân tích những kết quả đạt được trên các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, khảo sát thực địa, biên soạn lịch sử địa phương, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và truyền thông khoa học. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá những thuận lợi, khó khăn và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm trong bối cảnh đổi mới tổ chức khoa học, chuyển đổi số và tăng cường xã hội hóa hoạt động văn hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc kết hợp giữa nghiên cứu khoa học với bảo tồn di sản và truyền thông cộng đồng là hướng đi phù hợp, góp phần nâng cao giá trị ứng dụng của các công trình nghiên cứu, đồng thời tạo ra sự gắn kết giữa giới nghiên cứu với thực tiễn đời sống văn hóa ở địa phương.

Từ khóa: di sản văn hóa; nghiên cứu lịch sử; tổ chức khoa học; bảo tồn di sản; chuyển đổi số; phát triển bền vững.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển bền vững. Trong chiến lược phát triển quốc gia, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa luôn được xác định là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm gìn giữ bản sắc dân tộc, tăng cường sức mạnh nội sinh và tạo nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, di sản văn hóa không chỉ mang giá trị lịch sử, giáo dục hay tâm linh mà còn trở thành nguồn tài nguyên phục vụ phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và ngoại giao văn hóa.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là chuyển đổi số, đang làm thay đổi phương thức nghiên cứu, bảo tồn và phổ biến các giá trị văn hóa. Nếu trước đây, hoạt động nghiên cứu chủ yếu tập trung vào sưu tầm tư liệu, khảo cứu và xuất bản sách thì hiện nay yêu cầu đặt ra là phải xây dựng cơ sở dữ liệu số, ứng dụng công nghệ trong quản lý di sản, đồng thời tăng cường khả năng tiếp cận của cộng đồng đối với các giá trị văn hóa thông qua các nền tảng số. Điều này đòi hỏi các tổ chức nghiên cứu phải đổi mới tư duy quản trị, phương pháp nghiên cứu và phương thức truyền thông.

Ở Việt Nam, cùng với hệ thống các viện nghiên cứu và trường đại học, nhiều tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập đã tham gia tích cực vào hoạt động nghiên cứu, tư vấn và bảo tồn di sản. Với ưu thế linh hoạt về tổ chức, khả năng huy động nguồn lực xã hội và kết nối chuyên gia đa ngành, các đơn vị này đã trở thành lực lượng bổ trợ quan trọng cho hệ thống nghiên cứu khoa học của Nhà nước.

Được thành lập năm 2018, Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn Di sản Văn hóa Quốc gia là đơn vị trực thuộc Viện Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển. Theo chức năng được giao, Trung tâm thực hiện các hoạt động nghiên cứu lịch sử, khảo sát di tích, bảo tồn di sản, biên soạn lịch sử địa phương, tổ chức hội thảo khoa học, xuất bản ấn phẩm chuyên ngành, đào tạo và hợp tác khoa học trong lĩnh vực văn hóa. Sau hơn bảy năm hoạt động, Trung tâm từng bước khẳng định vai trò của mình thông qua nhiều công trình nghiên cứu, chương trình khảo sát thực địa và các hoạt động phát huy giá trị di sản tại nhiều địa phương trên cả nước.

a1-2353456346673-1766072232-1783068406.gif
Đoàn công tác của Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn Di sản Văn hóa Quốc gia khảo sát Nhà thờ họ Tô Viết 

Điểm đáng chú ý trong mô hình hoạt động của Trung tâm là sự kết hợp giữa nghiên cứu hàn lâm với thực tiễn bảo tồn di sản. Thay vì chỉ thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu thuần túy, Trung tâm chủ động phối hợp với chính quyền địa phương, các nhà khoa học, nghệ nhân và cộng đồng để tổ chức khảo sát, lập hồ sơ tư liệu, tư vấn bảo tồn, biên soạn lịch sử và triển khai các hoạt động thực hành di sản. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với xu hướng quản lý di sản hiện đại, trong đó cộng đồng được coi là chủ thể sáng tạo, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của Trung tâm cũng đối mặt với nhiều thách thức như nguồn lực tài chính còn hạn chế, yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ khoa học, quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính và yêu cầu chuyển đổi số. Những yếu tố này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức, nâng cao năng lực nghiên cứu và mở rộng hợp tác nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội.

Xuất phát từ thực tiễn trên, bài viết tập trung phân tích mô hình tổ chức và hoạt động của Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn Di sản Văn hóa Quốc gia dưới góc nhìn của một tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động trong lĩnh vực văn hóa. Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được và các vấn đề đặt ra, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm trong giai đoạn tới, đồng thời góp phần bổ sung luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện mô hình hoạt động của các tổ chức nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam.

d-hoa399-1734519583-1783066412.jpg
Lãnh đạo Trung tâm và UBND xã Xuân Lam họp bàn kế hoạch triển khai Hội thảo Khoa học “Đền Chính xã Xuân Lam - Lịch sử hình thành và phát triển”

3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ VÀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA QUỐC GIA

3.1. Quá trình hình thành và phát triển

Trong xu thế đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động khoa học và công nghệ, việc hình thành các tổ chức nghiên cứu ngoài công lập đã góp phần bổ sung nguồn lực cho hệ thống nghiên cứu quốc gia, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn Di sản Văn hóa Quốc gia được thành lập năm 2018 trên cơ sở chủ trương phát triển các đơn vị nghiên cứu trực thuộc Viện Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển, với mục tiêu tập hợp đội ngũ các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên gia và những người hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực lịch sử, văn hóa nhằm triển khai các hoạt động nghiên cứu, tư vấn, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Ngay từ khi thành lập, Trung tâm được xác định là đơn vị hoạt động theo mô hình kết hợp giữa nghiên cứu khoa học và dịch vụ khoa học - công nghệ. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với xu thế phát triển của các tổ chức nghiên cứu hiện nay, trong đó kết quả nghiên cứu không chỉ phục vụ học thuật mà còn đáp ứng nhu cầu của cơ quan quản lý, địa phương và cộng đồng.

Qua hơn bảy năm hoạt động, Trung tâm từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ, cộng tác viên và mở rộng mạng lưới hợp tác với nhiều địa phương trên cả nước. Cùng với việc triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu, Trung tâm đã từng bước mở rộng phạm vi hoạt động sang lĩnh vực truyền thông khoa học, tổ chức sự kiện văn hóa, khảo sát di sản và tư vấn chuyên môn.

Có thể nhận thấy, quá trình phát triển của Trung tâm phản ánh xu hướng chuyển đổi từ mô hình nghiên cứu đơn thuần sang mô hình nghiên cứu gắn với ứng dụng, trong đó các kết quả nghiên cứu được đưa vào phục vụ công tác quản lý, giáo dục truyền thống và phát triển văn hóa địa phương.

3.2. Kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng chuyên nghiệp

Hiệu quả hoạt động của một tổ chức khoa học phụ thuộc rất lớn vào cơ cấu tổ chức và năng lực quản trị. Trong những năm qua, Trung tâm đã nhiều lần rà soát, kiện toàn bộ máy nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Ban Giám đốc được kiện toàn với một Giám đốc và hai Phó Giám đốc; đồng thời, Hội đồng Khoa học tiếp tục phát huy vai trò tư vấn chuyên môn, phản biện khoa học và tham gia thẩm định nhiều công trình nghiên cứu. Các phòng chuyên môn được phân công nhiệm vụ theo từng lĩnh vực, bao gồm nghiên cứu lịch sử, bảo tồn di sản, truyền thông, phát triển nội dung và công tác hành chính.

Việc phân công theo hướng chuyên môn hóa đã tạo điều kiện để các bộ phận phát huy năng lực, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa nghiên cứu, khảo sát thực địa và truyền thông. Đây là điểm khác biệt của Trung tâm so với nhiều đơn vị nghiên cứu chỉ tập trung vào hoạt động học thuật.

Bên cạnh bộ máy chuyên môn, Hội đồng Khoa học của Trung tâm đóng vai trò quan trọng trong việc phản biện, góp ý đối với các công trình lịch sử Đảng bộ, lịch sử ngành, hồ sơ di tích và các chương trình nghiên cứu. Thông qua hoạt động của Hội đồng, chất lượng khoa học của các công trình được nâng lên, đồng thời tạo môi trường trao đổi học thuật giữa các nhà nghiên cứu trong và ngoài đơn vị.

v-23563463467347-1766072653-1783066494.gif
v-23562346346646-1766072720-1783066439.gif
Một số công trình nghiên cứu về lịch sử Đảng bộ, lịch sử ngành và lịch sử địa phương do Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn Di sản Văn hóa Quốc gia liên kết xuất bản 

3.3. Hoạt động nghiên cứu khoa học và biên soạn lịch sử

Đây là lĩnh vực được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của Trung tâm. Trong giai đoạn 2018–2025, Trung tâm đã triển khai nhiều chương trình nghiên cứu lịch sử và văn hóa tại các địa phương như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và một số tỉnh, thành khác.

Các công trình nghiên cứu tập trung vào bốn nhóm nội dung chính:

Thứ nhất, nghiên cứu lịch sử Đảng bộ các cấp. Đây là nhóm công trình có số lượng lớn, phục vụ công tác tổng kết thực tiễn, giáo dục truyền thống cách mạng và lưu giữ tư liệu lịch sử địa phương.

Thứ hai, nghiên cứu lịch sử ngành và lịch sử các cơ quan, đơn vị. Những công trình này góp phần hệ thống hóa quá trình hình thành, phát triển của từng ngành, phục vụ công tác quản lý và giáo dục truyền thống.

Thứ ba, nghiên cứu lịch sử địa phương và danh nhân văn hóa. Nội dung nghiên cứu tập trung vào các địa danh lịch sử, dòng họ, nhân vật tiêu biểu và các giá trị văn hóa đặc sắc của từng vùng miền.

Thứ tư, nghiên cứu tín ngưỡng, lễ hội và di sản văn hóa phi vật thể, góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

Điểm nổi bật của hoạt động nghiên cứu là việc kết hợp chặt chẽ giữa khảo cứu tài liệu lưu trữ với điều tra thực địa, phỏng vấn nhân chứng và đối chiếu nhiều nguồn tư liệu. Cách tiếp cận này giúp nâng cao độ tin cậy của kết quả nghiên cứu, đồng thời bổ sung nhiều tư liệu mới phục vụ công tác biên soạn lịch sử.

Nhiều công trình do Trung tâm thực hiện đã được các địa phương sử dụng làm tài liệu chính thức trong giáo dục truyền thống, tuyên truyền lịch sử và xây dựng hồ sơ lưu trữ. Điều đó cho thấy kết quả nghiên cứu không chỉ mang giá trị học thuật mà còn có tính ứng dụng cao trong thực tiễn.

a-363463464-1766072367-1783066534.gif
Lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn Di sản Văn hóa Quốc gia khảo sát di tích Đền Thành Hoàng

3.4. Khảo sát thực địa và tư vấn bảo tồn di sản

Một trong những đặc điểm nổi bật của Trung tâm là chú trọng hoạt động khảo sát thực địa. Khác với nhiều đơn vị nghiên cứu chủ yếu dựa trên tư liệu thứ cấp, Trung tâm thường xuyên tổ chức các đoàn điền dã nhằm thu thập tư liệu gốc, khảo sát hiện trạng di tích và ghi nhận các giá trị văn hóa tại cộng đồng.

Trong giai đoạn nghiên cứu, Trung tâm đã tiến hành khảo sát nhiều di tích lịch sử, địa danh văn hóa và không gian tín ngưỡng tại Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và một số địa phương khác. Hoạt động khảo sát tập trung vào việc xác minh tư liệu lịch sử, đánh giá giá trị di tích, lập hồ sơ khoa học và đề xuất các giải pháp bảo tồn phù hợp.

Thông qua các chuyến điền dã, nhiều nguồn tư liệu quý đã được bổ sung, góp phần làm sáng tỏ các sự kiện lịch sử, xác định giá trị của di tích và hỗ trợ quá trình biên soạn lịch sử địa phương. Đồng thời, kết quả khảo sát cũng tạo cơ sở khoa học cho việc tư vấn bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị di tích.

Có thể thấy, việc kết hợp giữa nghiên cứu tại bàn với khảo sát thực địa đã nâng cao chất lượng khoa học của các công trình, đồng thời giúp các kết quả nghiên cứu bám sát thực tiễn hơn.

3.5. Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể

Bên cạnh nghiên cứu lịch sử, Trung tâm đặc biệt quan tâm đến công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, nhất là thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt.

Thông qua Câu lạc bộ Bảo tồn các giá trị di sản của thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Trung tâm đã tổ chức nhiều chương trình giao lưu, liên hoan thực hành di sản tại các địa phương, kết hợp với các buổi tọa đàm, sinh hoạt chuyên đề và phổ biến kiến thức pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và di sản văn hóa.

Các hoạt động này không chỉ tạo điều kiện để các nghệ nhân, thanh đồng và nhà nghiên cứu giao lưu, trao đổi kinh nghiệm mà còn góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của di sản văn hóa phi vật thể. Đặc biệt, việc gắn hoạt động thực hành di sản với nghiên cứu khoa học đã giúp tăng cường tính xác thực và định hướng đúng đắn trong bảo tồn.

Ngoài ra, Trung tâm còn tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện, an sinh xã hội thông qua Câu lạc bộ, qua đó thể hiện trách nhiệm xã hội của một tổ chức khoa học gắn bó với cộng đồng.

abfd918-1760678942-1766072802-1783066578.jpg
Chương trình “Giao lưu thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Đền Thánh Hóa năm 2025” do Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn di sản văn hóa Quốc gia tổ chức. Ảnh: P.V

3.6. Truyền thông khoa học và chuyển đổi số

Trong những năm gần đây, Trung tâm từng bước đổi mới phương thức truyền thông theo hướng ứng dụng công nghệ số. Bên cạnh việc xuất bản sách, kỷ yếu và tài liệu nghiên cứu, Trung tâm đã tăng cường sử dụng các nền tảng mạng xã hội, phát trực tiếp các sự kiện, xây dựng nội dung đa phương tiện và quảng bá các hoạt động nghiên cứu tới công chúng.

Việc kết hợp giữa truyền thông số với các hoạt động nghiên cứu đã góp phần mở rộng phạm vi lan tỏa của các giá trị lịch sử và văn hóa, đồng thời tạo cầu nối giữa giới nghiên cứu với xã hội. Đây cũng là xu hướng tất yếu đối với các tổ chức khoa học trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

Tuy nhiên, so với yêu cầu thực tiễn, hoạt động chuyển đổi số của Trung tâm vẫn còn ở giai đoạn đầu. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu số, số hóa tư liệu và phát triển các sản phẩm khoa học số vẫn cần được đầu tư mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.

4. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ VÀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA QUỐC GIA

4.1. Những kết quả nổi bật

Qua phân tích thực tiễn hoạt động, có thể nhận thấy Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn Di sản Văn hóa Quốc gia đã từng bước khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học hoạt động đa lĩnh vực trong nghiên cứu lịch sử, bảo tồn di sản và truyền thông văn hóa. Mặc dù thời gian thành lập chưa dài, song Trung tâm đã xây dựng được mô hình hoạt động tương đối hoàn chỉnh, từng bước thích ứng với cơ chế tự chủ và yêu cầu đổi mới của hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam.

Thành công đầu tiên của Trung tâm là xây dựng được đội ngũ các nhà nghiên cứu, chuyên gia, cộng tác viên và nghệ nhân có kinh nghiệm ở nhiều địa phương. Mạng lưới này không chỉ hỗ trợ hoạt động nghiên cứu mà còn tạo điều kiện thuận lợi để triển khai khảo sát thực địa, thu thập tư liệu và tổ chức các hoạt động bảo tồn di sản.

Khác với nhiều đơn vị nghiên cứu chỉ tập trung vào một lĩnh vực chuyên môn, Trung tâm đã hình thành mô hình hoạt động tích hợp giữa nghiên cứu khoa học, tư vấn, truyền thông và tổ chức các hoạt động phát huy giá trị di sản. Cách tiếp cận này giúp kết quả nghiên cứu nhanh chóng được chuyển hóa thành các sản phẩm phục vụ cộng đồng, góp phần nâng cao hiệu quả ứng dụng của khoa học xã hội và nhân văn.

Một kết quả đáng ghi nhận khác là số lượng các công trình lịch sử địa phương, lịch sử Đảng bộ và lịch sử ngành được nghiên cứu, biên soạn ngày càng tăng. Đây không chỉ là nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu mà còn góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, xây dựng bản sắc văn hóa địa phương và hỗ trợ công tác quản lý.

Bên cạnh đó, hoạt động khảo sát thực địa được duy trì thường xuyên đã giúp bổ sung nhiều nguồn tư liệu gốc, nâng cao chất lượng khoa học của các công trình nghiên cứu. Việc kết hợp giữa khảo cứu tài liệu lưu trữ với điều tra điền dã đã tạo nên một quy trình nghiên cứu tương đối chặt chẽ, bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy của kết quả.

Trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, việc tổ chức các chương trình giao lưu thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ tại nhiều địa phương cho thấy Trung tâm đã từng bước phát huy vai trò kết nối giữa giới nghiên cứu với cộng đồng thực hành di sản. Đây là cách tiếp cận phù hợp với quan điểm bảo tồn lấy cộng đồng làm trung tâm, góp phần duy trì sức sống của di sản trong đời sống đương đại.

Một điểm sáng khác là Trung tâm đã chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác truyền thông. Việc ghi hình, phát trực tiếp các sự kiện, xây dựng nội dung số và quảng bá hoạt động nghiên cứu trên các nền tảng trực tuyến đã mở rộng phạm vi tiếp cận của công chúng, từng bước nâng cao hiệu quả truyền thông khoa học.

z5354164421788-3abc4c619a47fdb68241fc5614684a77-1713277071-1783067733.jpg
z5354164458796-4eed927e5fffce3da1ad71c42ce82df1-1713277125-1783067750.jpg
Lãnh đạo UBND xã Xuân Lam và Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn Di sản Văn hóa Quốc gia khảo sát thực địa để tổ chức Hội thảo khoa học "Đền Chính xã Xuân Lam - Lịch sử hình thành và phát triển", góp phần phục vụ công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa địa phương.

4.2. Những hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả tích cực, hoạt động của Trung tâm vẫn còn một số hạn chế cần được nhìn nhận khách quan để có giải pháp khắc phục.

Trước hết, cơ cấu hoạt động nghiên cứu vẫn còn tập trung nhiều vào lĩnh vực biên soạn lịch sử địa phương và lịch sử Đảng bộ. Đây là nhiệm vụ quan trọng nhưng chưa phản ánh đầy đủ tiềm năng nghiên cứu của Trung tâm. Các hướng nghiên cứu liên ngành như văn hóa số, kinh tế di sản, quản trị di sản, công nghiệp văn hóa, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong bảo tồn hay xây dựng cơ sở dữ liệu di sản vẫn chưa được triển khai mạnh mẽ.

Thứ hai, số lượng công bố khoa học trên các tạp chí chuyên ngành còn khiêm tốn so với số lượng các công trình nghiên cứu thực hiện. Phần lớn kết quả nghiên cứu mới dừng lại ở dạng sách lịch sử địa phương hoặc báo cáo chuyên đề, trong khi việc chuyển hóa thành các bài báo khoa học có phản biện vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Điều này làm hạn chế khả năng lan tỏa học thuật và ảnh hưởng đến vị thế khoa học của Trung tâm.

Thứ ba, hoạt động hợp tác quốc tế còn khá hạn chế. Mặc dù đã mở rộng quan hệ với nhiều địa phương trong nước nhưng việc kết nối với các viện nghiên cứu, trường đại học hoặc tổ chức quốc tế về di sản văn hóa chưa nhiều. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các phương pháp nghiên cứu hiện đại cũng như cơ hội tham gia các chương trình hợp tác và dự án quốc tế.

Thứ tư, nguồn lực tài chính vẫn là khó khăn lớn. Trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ, kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học phụ thuộc nhiều vào các hợp đồng nghiên cứu và nguồn xã hội hóa. Điều này khiến việc triển khai các đề tài có quy mô lớn, nghiên cứu dài hạn hoặc ứng dụng công nghệ mới gặp không ít trở ngại.

Ngoài ra, quá trình chuyển đổi số mới tập trung vào hoạt động truyền thông, trong khi việc xây dựng cơ sở dữ liệu số, số hóa tư liệu lịch sử, quản lý dữ liệu nghiên cứu và chia sẻ học liệu điện tử vẫn chưa được đầu tư tương xứng. Đây là khoảng trống cần sớm được khắc phục để đáp ứng yêu cầu phát triển của khoa học trong thời đại số.

4.3. Nguyên nhân của những hạn chế

Các hạn chế nêu trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Về khách quan, cơ chế tự chủ của các tổ chức khoa học ngoài công lập khiến nguồn lực tài chính dành cho nghiên cứu còn hạn chế. Trong khi đó, nhu cầu đầu tư cho khảo sát thực địa, thu thập tư liệu, xuất bản công trình và chuyển đổi số ngày càng lớn. Bên cạnh đó, quá trình sắp xếp đơn vị hành chính và thay đổi cơ chế quản lý ở nhiều địa phương cũng ảnh hưởng nhất định đến tiến độ triển khai một số nhiệm vụ nghiên cứu.

Về chủ quan, việc xây dựng chiến lược phát triển dài hạn của Trung tâm chưa thật sự đồng bộ. Một số hoạt động vẫn mang tính thời vụ, phụ thuộc vào nhu cầu đặt hàng của địa phương thay vì hình thành các chương trình nghiên cứu dài hạn. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nghiên cứu trẻ, đặc biệt là đội ngũ có khả năng công bố quốc tế và ứng dụng công nghệ số trong nghiên cứu, vẫn còn hạn chế.

Mặt khác, hoạt động truyền thông khoa học tuy đã có chuyển biến nhưng chưa gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển thương hiệu học thuật. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu mở, phát hành các ấn phẩm điện tử và phát triển hệ sinh thái học liệu số vẫn chưa được triển khai đồng bộ.

z5872512972275-de44b4c2ab022ab1f675f82defd06375-1727435780-1766074319-1-1783066649.jpg
Các nghệ nhân, thanh đồng - thành viên Câu lạc bộ Bảo tồn và Phát huy giá trị di sản Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt sinh hoạt chuyên đề tại Đền Mẫu Thoải

4.4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động

Để phát huy hơn nữa vai trò của Trung tâm trong giai đoạn mới, tác giả đề xuất một số nhóm giải pháp sau:

Thứ nhất, hoàn thiện chiến lược phát triển tổ chức. Trung tâm cần xây dựng chiến lược phát triển giai đoạn 2026–2035 với tầm nhìn dài hạn, xác định rõ các lĩnh vực nghiên cứu mũi nhọn, lộ trình chuyển đổi số và mục tiêu phát triển đội ngũ nghiên cứu chất lượng cao.

Thứ hai, đổi mới hoạt động nghiên cứu theo hướng liên ngành. Bên cạnh nghiên cứu lịch sử địa phương, cần mở rộng sang các lĩnh vực như quản trị di sản, kinh tế văn hóa, công nghiệp văn hóa, văn hóa số, ứng dụng công nghệ thông tin trong bảo tồn di sản và xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực khoa học. Trung tâm cần xây dựng cơ chế thu hút các nhà khoa học đầu ngành, đồng thời tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ trẻ tham gia các khóa đào tạo, hội thảo chuyên môn và chương trình nghiên cứu trong nước, quốc tế.

Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số. Đây cần được xem là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn tới. Trung tâm nên xây dựng kho dữ liệu số về lịch sử và di sản văn hóa; số hóa các công trình nghiên cứu; ứng dụng công nghệ GIS, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong quản lý, tra cứu và quảng bá di sản.

Thứ năm, mở rộng hợp tác khoa học và huy động nguồn lực xã hội. Trung tâm cần tăng cường phối hợp với các trường đại học, viện nghiên cứu, bảo tàng, cơ quan quản lý văn hóa và doanh nghiệp nhằm đa dạng hóa nguồn lực, nâng cao chất lượng nghiên cứu và tăng khả năng ứng dụng kết quả vào thực tiễn.

Thứ sáu, nâng cao chất lượng công bố khoa học. Bên cạnh việc biên soạn các công trình lịch sử, Trung tâm cần khuyến khích cán bộ nghiên cứu công bố bài viết trên các tạp chí khoa học có phản biện, tham gia hội thảo chuyên ngành và xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh. Điều này không chỉ góp phần nâng cao uy tín học thuật của Trung tâm mà còn tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu được lan tỏa rộng rãi trong giới khoa học.

Nhìn tổng thể, những kết quả đạt được trong thời gian qua cho thấy Trung tâm đã có những bước phát triển đáng ghi nhận và từng bước khẳng định vai trò của mình trong hệ thống các tổ chức khoa học hoạt động trong lĩnh vực lịch sử và văn hóa. Tuy nhiên, để thích ứng với yêu cầu mới của quá trình chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và đổi mới cơ chế quản lý khoa học, Trung tâm cần tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức, nâng cao năng lực nghiên cứu và tăng cường tính liên kết giữa nghiên cứu khoa học với nhu cầu phát triển của xã hội. Đây cũng là tiền đề quan trọng để Trung tâm phát triển bền vững, đóng góp nhiều hơn cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam.

z5872512607850-20ed1e159e3f572f84096b5cd39d9db9-1727436195-1783068497.jpg
z5872512566557-c3946b1e7fe6c905faf30f4b658338c0-1727435492-1783068511.jpg
Câu lạc bộ Bảo tồn và Phát huy giá trị di sản thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn Di sản Văn hóa Quốc gia, Viện Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển, tổ chức sinh hoạt chuyên đề tại Đền Mẫu Thoải và trao Giấy khen cho các nghệ nhân, thanh đồng có nhiều đóng góp trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản và xây dựng Câu lạc bộ.

5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

5.1. Kết luận

Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế tri thức, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, văn hóa ngày càng được xác định là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững. Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước mà còn là trách nhiệm của hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ, các viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức xã hội nghề nghiệp và cộng đồng.

Thông qua nghiên cứu trường hợp Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn Di sản Văn hóa Quốc gia, bài viết đã làm rõ vai trò của một tổ chức khoa học ngoài công lập trong việc kết nối nghiên cứu hàn lâm với thực tiễn bảo tồn di sản văn hóa. Khác với mô hình nghiên cứu truyền thống chỉ tập trung vào các hoạt động học thuật, Trung tâm đã từng bước xây dựng phương thức hoạt động theo hướng tích hợp giữa nghiên cứu khoa học, khảo sát thực địa, tư vấn chuyên môn, truyền thông khoa học và phát huy giá trị di sản. Đây là hướng phát triển phù hợp với yêu cầu đổi mới tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong thời gian qua, Trung tâm đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trên các lĩnh vực nghiên cứu lịch sử địa phương, biên soạn lịch sử Đảng bộ, lịch sử ngành, khảo sát và tư vấn bảo tồn di tích, nghiên cứu tín ngưỡng dân gian, tổ chức hội thảo khoa học, truyền thông văn hóa và kết nối cộng đồng. Việc triển khai đồng thời nhiều nhóm nhiệm vụ chuyên môn không chỉ góp phần bổ sung nguồn tư liệu lịch sử có giá trị mà còn hỗ trợ các địa phương trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

Một trong những thành công nổi bật của Trung tâm là xây dựng được mối liên kết tương đối chặt chẽ giữa các nhà nghiên cứu, nghệ nhân, cộng đồng và chính quyền địa phương. Thông qua các chương trình khảo sát thực địa, liên hoan thực hành tín ngưỡng, hội thảo khoa học và hoạt động truyền thông, nhiều giá trị văn hóa đã được nhận diện, hệ thống hóa và lan tỏa đến đông đảo công chúng. Điều này phù hợp với quan điểm bảo tồn di sản lấy cộng đồng làm trung tâm và góp phần nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của di sản văn hóa trong phát triển bền vững.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng Trung tâm vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Hoạt động nghiên cứu còn tập trung chủ yếu vào lịch sử địa phương; các nghiên cứu liên ngành và công bố khoa học trên các tạp chí chuyên ngành còn hạn chế; nguồn lực tài chính chưa đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài; hoạt động chuyển đổi số mới ở giai đoạn khởi đầu; hợp tác quốc tế chưa tương xứng với tiềm năng của đơn vị. Những hạn chế này phản ánh khó khăn chung của nhiều tổ chức khoa học ngoài công lập trong bối cảnh thực hiện cơ chế tự chủ và đổi mới hệ thống tổ chức khoa học ở Việt Nam.

Từ những kết quả nghiên cứu, có thể khẳng định rằng mô hình hoạt động của Trung tâm là hướng tiếp cận phù hợp với xu thế phát triển của các tổ chức nghiên cứu văn hóa hiện đại. Việc kết hợp nghiên cứu, bảo tồn, truyền thông và kết nối cộng đồng không chỉ nâng cao giá trị ứng dụng của các công trình khoa học mà còn góp phần đưa kết quả nghiên cứu đến gần hơn với đời sống xã hội. Đây cũng là hướng đi cần tiếp tục được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa trong giai đoạn mới.

b-kiem-gdbt-34645674-1706539104-1-1783066695.jpg

5.2. Khuyến nghị

Để nâng cao hiệu quả hoạt động trong thời gian tới, bài viết đề xuất một số khuyến nghị sau:

Đối với Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn Di sản Văn hóa Quốc gia

Thứ nhất, xây dựng chiến lược phát triển giai đoạn 2026–2035 theo hướng hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, xác định các lĩnh vực ưu tiên như quản trị di sản, chuyển đổi số trong bảo tồn văn hóa, văn hóa số và công nghiệp văn hóa.

Thứ hai, tăng cường công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học có phản biện, khuyến khích cán bộ nghiên cứu tham gia các hội thảo trong nước và quốc tế, từng bước nâng cao vị thế học thuật của Trung tâm.

Thứ ba, xây dựng cơ sở dữ liệu số về lịch sử và di sản văn hóa; đẩy mạnh số hóa tư liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, hệ thống thông tin địa lý (GIS) và công nghệ số trong quản lý, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Thứ tư, mở rộng hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu, bảo tàng, trung tâm lưu trữ, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế nhằm huy động nguồn lực, tiếp cận các phương pháp nghiên cứu tiên tiến và tăng cường chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

Đối với Viện Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển

Tiếp tục quan tâm đầu tư, tạo điều kiện về cơ chế, chính sách và nguồn lực để Trung tâm phát huy vai trò là đơn vị nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực lịch sử và bảo tồn di sản; đồng thời tăng cường kết nối giữa các đơn vị trực thuộc nhằm hình thành các chương trình nghiên cứu liên ngành có quy mô lớn.

Đối với các cơ quan quản lý nhà nước

Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế đặt hàng nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực lịch sử và văn hóa; khuyến khích các tổ chức khoa học ngoài công lập tham gia thực hiện các nhiệm vụ khoa học, lập hồ sơ di sản, xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa và chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản.

Bên cạnh đó, cần có chính sách hỗ trợ các tổ chức nghiên cứu tiếp cận các nguồn vốn khoa học và công nghệ, tăng cường hợp tác quốc tế, tạo điều kiện để các kết quả nghiên cứu được ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn quản lý và phát triển văn hóa.

z5171371073228-f43edb403ead75777ab28331b7944733-1708327277-1783067576.jpg
Nghệ nhân Ưu tú Hoàng Lương Nguyên, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn Di sản Văn hóa Quốc gia, thực hành nghi lễ hầu đồng trong khuôn khổ hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

- Quốc hội (2001, sửa đổi, bổ sung năm 2009). Luật Di sản văn hóa.

- Quốc hội (2013). Luật Khoa học và Công nghệ.

- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (nhiều năm). Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Di sản văn hóa.

- UNESCO (1972). Convention Concerning the Protection of the World Cultural and Natural Heritage.

- UNESCO (2003). Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage.

- UNESCO (2015). Policy Document for the Integration of a Sustainable Development Perspective into the Processes of the World Heritage Convention.

- Viện Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển. Điều lệ tổ chức và hoạt động.

- Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn Di sản Văn hóa Quốc gia. Báo cáo tổng kết hoạt động các năm 2023, 2024 và 2025.

- Các công trình lịch sử địa phương, lịch sử Đảng bộ và lịch sử ngành do Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn Di sản Văn hóa Quốc gia chủ trì biên soạn.

ThS. Nguyễn Danh Hòa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển

Link nội dung: https://phuongnam.vanhoavaphattrien.vn/nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-nghien-cuu-va-bao-ton-di-san-van-hoa-tu-thuc-tien-trung-tam-nghien-cuu-lich-su-va-bao-ton-di-san-van-hoa-quoc-gia-a31028.html