Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 là kết quả tất yếu của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Trong bối cảnh dân tộc chìm trong đêm dài nô lệ, xã hội bế tắc về đường lối cứu nước, sự xuất hiện của Đảng đã chấm dứt khủng hoảng về đường lối và lực lượng lãnh đạo cách mạng, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc - thời kỳ Nhân dân Việt Nam có một chính đảng cách mạng chân chính dẫn đường.
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã xác định rõ mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường cách mạng vô sản, đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc và Nhân dân lên trên hết, trước hết. Chính bản lĩnh chính trị, trí tuệ cách mạng và sự gắn bó máu thịt với Nhân dân đã tạo nên sức mạnh nội sinh to lớn, giúp Đảng vượt qua muôn vàn thử thách, gian nan trong hành trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lớp lớp cha anh đã anh dũng đứng lên, bước vào các cuộc kháng chiến trường kỳ chống giặc ngoại xâm, làm nên những mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
Tiếp đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Đỉnh cao là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, với Đại thắng mùa Xuân năm 1975, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa non sông liền một dải.
Những thắng lợi đó không chỉ là chiến công quân sự, mà còn là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn, của ý chí quật cường, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc và vai trò lãnh đạo sáng suốt của Đảng - nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Bước vào thời kỳ hòa bình, thống nhất, đất nước phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức. Thực tiễn đã đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới tư duy, tìm kiếm con đường phát triển phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã mở ra công cuộc đổi mới toàn diện đất nước - một quyết định mang tầm chiến lược, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần dám nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật của Đảng.
Nhìn lại 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, có thể khẳng định: Đổi mới không phải là từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; là quá trình không ngừng đổi mới tư duy lý luận, phương thức lãnh đạo và tổ chức thực hiện, nhằm phát huy tối đa mọi nguồn lực cho phát triển đất nước.
Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, Việt Nam đã từng bước hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
Thực tiễn 40 năm đổi mới đã ghi nhận những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử trên hầu hết các lĩnh vực. Kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao trong thời gian dài; quy mô nền kinh tế không ngừng được mở rộng; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được cải thiện rõ rệt. Công cuộc xóa đói, giảm nghèo đạt nhiều kết quả nổi bật, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững; chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ được bảo đảm. Văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực; giáo dục, khoa học - công nghệ, y tế, an sinh xã hội ngày càng được quan tâm đầu tư. Đặc biệt, vai trò, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam không ngừng được nâng cao, trở thành đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Những thành tựu đó là minh chứng sinh động cho tính đúng đắn của đường lối đổi mới, cho con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhân dân ta đã kiên định lựa chọn.
Bên cạnh những thành tựu to lớn, Đảng ta cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại sau 40 năm đổi mới. Kinh tế phát triển chưa thật sự bền vững, chất lượng tăng trưởng và năng suất lao động còn hạn chế; thể chế phát triển văn hóa, xã hội chậm được hoàn thiện; có lúc, có nơi còn biểu hiện coi nặng tăng trưởng kinh tế mà chưa quan tâm đúng mức đến phát triển văn hóa, con người.
Thế và lực mới của đất nước tuy được nâng lên nhưng chưa được phát huy tối ưu; năng lực quản trị quốc gia, hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước còn những điểm cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ. Việc nhận diện đúng những hạn chế đó không phải để phủ nhận thành tựu, mà là cơ sở quan trọng để Đảng tiếp tục hoàn thiện mình, lãnh đạo đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn trong giai đoạn mới.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vừa qua là một dấu mốc đặc biệt quan trọng. Đại hội không chỉ tổng kết một nhiệm kỳ, mà còn tổng kết sâu sắc chặng đường 40 năm đổi mới; đồng thời mở ra một giai đoạn phát triển mới - giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Trên cơ sở đánh giá khách quan, toàn diện tình hình trong nước và quốc tế, Đại hội XIV đã xác định rõ yêu cầu: phải tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia; phải hành động mạnh mẽ, quyết liệt, đột phá và hiệu quả; phát huy cao nhất tinh thần tự chủ chiến lược, tự tin, tự cường dân tộc.
Đại hội xác định hai mục tiêu chiến lược có ý nghĩa đặc biệt: 100 năm đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng (1930 - 2030) và 100 năm thành lập nước (1945 - 2045). Đây không chỉ là những cột mốc thời gian, mà là những tầm nhìn chiến lược, thể hiện khát vọng phát triển mãnh liệt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.
Đứng trước vận mệnh lịch sử của dân tộc, hơn bao giờ hết, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý thức trách nhiệm công dân và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao là khát vọng chính đáng, là ước vọng cháy bỏng của toàn dân tộc Việt Nam.
Con đường phía trước còn nhiều khó khăn, thách thức, song với bản lĩnh, trí tuệ và kinh nghiệm 96 năm lãnh đạo cách mạng; với niềm tin sắt son của Nhân dân; với tinh thần đổi mới, sáng tạo không ngừng, Đảng Cộng sản Việt Nam đủ năng lực và uy tín để tiếp tục dẫn dắt dân tộc vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Mùa Xuân 96 năm có Đảng không chỉ là dịp để tự hào, mà còn là thời khắc để mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam tự soi mình, tự làm mới mình, chung sức, đồng lòng vì tương lai đất nước. Đó chính là cách thiết thực nhất để viết tiếp những trang sử vẻ vang của Đảng và dân tộc trong kỷ nguyên vươn mình của Việt Nam.
ThS. Nguyễn Danh Hòa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển