Năm nay cũng vậy, sau thời kỳ bị đại dịch Covid-19 kéo dài, thay bằng những đêm hội trực tuyến của Tết Trung thu năm trước thì ngày “Vui hội trăng rằm” của Tết Trung thu năm nay thầy và trò nhà trường lại ngập tràn niềm vui và đã được bùng nổ trong những tiếng cười sảng khoái, hạnh phúc; trong những tràng pháo tay giòn giã; trong sự yêu thương, tâm huyết tận cùng với các con trẻ; trong những nỗi niềm tự hào và dưng dưng xúc động của ngày trao thưởng khuyến học, khuyến tài… Cứ thế lặng nhìn ngày hội trăng rằm ấy tôi cứ nghĩ, hẳn sau này trong hành trang tuổi thơ của các em học sinh dưới cội bồ đề (sân trường được bao trùm bởi tán cây bồ đề cổ thụ) kia chắc sẽ có một Tết Trung thu ấm áp, đáng nhớ. Và hơn thế nữa, với những ngày “Vui hội trăng rằm” hẳn những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương, dân tộc sẽ tiếp tục được trôi chảy, lưu truyền trong dòng màu Việt từ thế hệ này sang thế hệ khác qua các trò diễn đầy sôi động, hào hứng. Cứ nghĩ, có khi còn hiệu quả hơn rất nhiều so với những giờ dạy trên bục giảng.
“Vui hội trăng rằm” ở chốn quê, trường làng theo trào lưu giờ đây đã trở thành một sinh hoạt văn hoá được sự đón nhận ủng hộ tích cực của cộng đồng. Mỗi dịp Trung thu về, sau kỳ nghỉ hè, học sinh được tựu trường trong bao nỗi niềm náo nức đã không chỉ được thầy cô mà còn được cả cha mẹ và các tổ chức của thôn, xã cùng tham gia tổ chức vui Tết thiếu nhi để tạo nên cái thế chân kiềng trong giáo dục nhà trường - gia đình - xã hội. Và ở trong cái ngày hội trăng rằm đó các con đã không chỉ được thưởng thức những trái cây cùng các loại bánh Trung thu truyền thống mà còn được tìm hiểu và tự tay tham gia vào các hoạt động, làm ra các sản phẩm văn hoá truyền thống dưới sự hướng dẫn của các nghệ nhân như làm bánh, làm đèn ông sao, làm ông tiến sĩ giấy… Có thể nói, những hoạt động này không chỉ giúp cho thế hệ trẻ hiểu hơn về một nét đẹp văn hoá Trung thu của dân tộc mà còn rèn luyện các kỹ năng khéo léo cho đôi bàn tay của học sinh (làm đèn ông sao, làm ông tiến sĩ giấy; cắt tỉa hoa quả, trưng bày mâm cỗ trông trăng…), dạy cho các em biết làm các loại bánh truyền thống (bánh nướng, bánh dẻo…). Và, có lẽ, trên tất cả, tôi cứ nghĩ, phải chăng đây là con đường còn lưu truyền những giá trị bản sắc văn hoá của dân tộc, quê hương một cách sống động nhất, hiệu quả nhất.
Nhớ lại, sinh thời, Bác Hồ kính yêu, trong dịp tết Trung thu độc lập đầu tiên của nước Việt Nam, năm 1945, Người đã viết liền hai thức thư gửi các cháu. Và năm nào cũng vậy, cứ mỗi dịp Trung thu Bác lại gửi thư tới thiếu nhi cả nước với một tấm lòng quan tâm và yêu thương con trẻ vô hạn: “Trung thu trăng sáng như gương/ Bác Hồ ngắm cảnh, nhớ thương nhi đồng/ Sau đây Bác viết mấy dòng/ Gửi cho các cháu, tỏ lòng nhớ nhung” (Trung thu năm 1951) và “Ai yêu các nhi đồng/ Bằng Bác Hồ Chí Minh?…” (Trung thu năm 1952). “Thu này Bác gửi thơ chung Bác hôn các cháu khắp vùng gần xa, …” (Trung thu năm 1953).
Nay Người đã đi xa, nhưng tình cảm yêu quý, sự quan tâm đặc biệt tới thiếu niên, nhi đồng của Bác đã được không ít nhà trường ghi nhớ và tiếp tục trao truyền, lan toả tới muôn ngàn học sinh bằng tất cả tấm lòng và tình yêu thương con trẻ. Trong niềm hân hoan, nhìn những nụ cười thích thú trên bao khuôn mặt rạng ngời giữa muôn tiếng hò reo trong ngày hội trăng rằm của các em học sinh trên sân trường rộn ràng kia, hẳn có biết bao người đang vui sướng cùng những niềm vui học trò. Những trò diễn xiếc đi xe của khỉ, những bàn tay ảo thuật điêu luyện tài hoa của các ảo thuật gia trong gánh xiếc; những màn ca hát, nhảy múa của các bạn học sinh; hình ảnh chú Cuội, chị Hằng Nga do thầy cô hóa thân trong vai diễn; những màn múa lân tưng bừng rộn rã; những kỷ niệm được đứng trên bục vinh danh nhận biểu tượng khuyến học… đâu chỉ xả tress sau đợt dịch kéo dài, sau những giờ học mệt nhọc, căng thẳng… hẳn sẽ còn đọng lại mãi, không thể nào quên trong bầu trời tuổi thơ của biết bao bạn nhỏ. Nhưng có lẽ, hơn tất cả, tôi cứ nghĩ, mỗi Tết Trung thu như thế mãi là một giờ học tổng hợp nhất, sống động nhất, bổ ích nhất và thực tế nhất. Đặc biệt, với Vân Canh rạng rỡ tên vàng hẳn mỗi Tết thiếu nhi như vậy đã góp phần không nhỏ để lưu giữ danh thơm cho một làng quê khoa bảng của đất kinh kỳ: “Mỗ, La, Canh, Cót tứ danh hương”.
Trộm nghĩ, khi cánh cửa hội nhập đã mở thì việc giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc trong quá trình giao lưu với các nền văn hoá khác là một điều sống còn đối với mỗi quốc gia, mỗi làng quê. Với phương châm hoà nhập chứ không hoà tan trong quan hệ hợp tác ở cái kỷ nguyên 4.0 này thì việc lưu truyền các giá trị văn hoá của dân tộc từ thế hệ trước cho thế hệ sau có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó quyết định sự tồn vong của đất nước. Trong thực tiễn đời sống văn hoá, thói đời cái lạ bao giờ cũng có một sức hấp dẫn nhất định, hơn nữa đi cùng với tâm lý sùng ngoại đang trở thành một thứ “mốt” trong nhận thức của một số người, nhất là những người đứng đầu nhà trường thì những hoạt động “Vui hội trăng rằm” sẽ là một dịp để học sinh được tìm hiểu học tập về lịch sử văn hoá của địa phương, của đất nước là một điều vô cùng bổ ích, một hướng đi đúng đắn, phù hợp cho việc lưu truyền và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
Phan Anh
Link nội dung: https://phuongnam.vanhoavaphattrien.vn/chot-nghi-ve-dong-chay-van-hoa-viet-tu-vui-hoi-trang-ram-trong-nha-truong-a23117.html