Làng đan võng thôn 6, xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi
Cả thôn… đan võng
Xã Đức Chánh (huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi) có gần 1.000 hộ làm nghề đan võng, tập trung đông nhất tại thôn 6, nơi đây, hơn 100 năm qua, nghề đan võng đã gắn bó với người dân bởi vừa là nghề truyền thống, vừa là nguồn thu nhập chính của nhiều lao động.
Len lỏi góc nhà thôn 6, người ta dễ dàng bắt gặp cảnh những người phụ nữ ngồi thành nhóm đan võng, từ cụ già đến học sinh đều khéo tay đưa sợi tơ đan thoăn thoắt. Sự đông đúc và nhộp nhịp của nghề đan võng trải qua thời gian vẫn nguyên vẹn và ngày càng phát triển hơn. Ông Đỗ Thái Châu, chi hội trưởng Hội Nông dân thôn 6, cho biết: “Toàn thôn có 1.300 hộ thì có đến 900 hộ làm nghề đan võng thường xuyên và không thường xuyên. Cả thôn tập trung đến 6 đại lý thu mua võng, thu nhập của những đại lý này gần 120 triệu/năm. Các đại lý luôn có gần 100 lao động là “dân chuyên nghiệp” đan võng. Ngoài ra, nhiều gia đình tự bỏ vốn làm võng và xuất bán”.
Ở vùng này, nhiều gia đình có đến 3 - 4 đời làm nghề võng, gia đình ông Trương Quang Của (thôn 6, xã Đức Chánh), có đến 3 đời gắn bó nghề, ông chia sẻ: “Nghề này có thể làm ngay cả khi mùa mưa đến, lúc nông nhàn, thậm chí người già, học sinh có thể vừa xem ti vi vừa đan kiếm thêm thu nhập”. Trước kia, ông Của cũng làm nghề đan võng rồi khi thương lái đặt mua nhiều, ông tập hợp nhiều người cùng làm và mở đại lý phân phối võng. Hiện nay ông có gần 100 lao động làm thường xuyên.
Cụ Nguyễn Thị Tri (90 tuổi) cũng đan võng từ thời mới 12 tuổi, khi người ta dùng cây thơm tàu, vỏ tra để làm sợi. Cụ cho biết: “Hồi nhỏ, cả nhà sau khi ra đồng về là quây quần bên nhau làm võng, rồi chở lên xe đạp đi bán dạo khắp các xã, huyện”.
Nghề đan võng bắt đầu từ khi người dân dùng cây tra nạo bỏ lớp phấn xanh, sau đó, đập dập, phơi khô. Khi vỏ tra có độ dẻo mới dùng tay tước thành sợi, se lại như sợi dây thừng rồi đan. Nhưng vỏ cây tra vốn rất khô, về sau ông cha đi rừng mới phát hiện cây thơm tàu mọc ở sườn đồi về làm thử. Ông Châu nói: “Họ đem cây thơm tàu về đập, phơi lấy sợi, vốn thơm tàu rất ngứa nên phải ngâm lâu để sợi chỉ se chắc và thơm hơn”. Vì thế mới có câu “Con lớn lên theo tiếng đập thơm tàu/ Võng theo ta về tới miệt Cà Mau”.
Đến gần 30 năm trở lại đây, khi nghề làm võng ngày càng phát triển, khắp nơi đặt mua, người dân thôn 6 chuyển sang làm nghề đan võng bằng sợi ni lông mềm, bền chắc. Những đại lý trở thành nơi cung cấp nguyên liệu đầu vào và chuyển hàng cho thương lái khắp cả nước.
Cụ Nguyễn Thị Tri (90 tuổi) vẫn đan võng mỗi ngày

Chiếc vòng này sẽ được “xuất ngoại"
Võng đi… Lào và Campuchia
Giá thành hợp lý, kỹ thuật đan võng tài hoa đã khiến những chiếc võng Đức Chánh bán sang tận Lào, Campuchia. Ông Trương Quang Của nói: “Mỗi ngày trung bình mỗi người đan được 5,6 chiếc võng, nếu chỉ tính công lao động, mỗi người được trả 8.000 đồng/chiếc võng”.
Hiện tại giá võng thông thường rẻ nhất là 10.000 đồng/chiếc, giá võng loại 1, loại 2 giá khoảng 30.000 đồng/chiếc, thậm chí 50.000 đồng/chiếc. Mỗi tháng ông Của xuất bán cho thương lái khoảng 1.000 chiếc. Ông cho biết: “Tùy theo cách đặt hàng của thương lái thì chúng tôi biết dược hàng này xuất bán đi đâu. Đối với hàng đặt xuất Lào, Campuchia thì võng thường nhiều màu đan xen, ít nhất 2 màu, kỹ thuật đan võng cũng khác nhau”. Người Lào, Campuchia “ưa” màu sắc sáng, tối, đánh bìa và thắt đầu để treo võng.
Chị Nguyễn Thị Hoa (thôn 6, xã Đức Chánh), một người chuyên làm võng xuất ngoại, cho biết, võng xuất ngoại thường có 3 loại, loại 1 khổ dài 60cm, rộng 50cm; loại 2 khổ dài 50cm, rộng 40cm; loại 3 khổ dài 40cm, rộng 30cm. Người đan phải đánh võng thưa hơn, khoảng cách các gút đánh rộng hơn. Lấy một mẫu võng được “xuất ngoại”, chị Hoa chỉ tường tận, màu sắc võng gồm màu xanh đen và đỏ, đánh bìa màu trắng, sợi đánh bìa to hơn so với sợi đánh võng, thắt đầu hình số 8.
Mỗi ngày tại nhà chị Hoa tập trung đủ cả 7 người từ người già đến các chị phụ nữ, họ là người thân, họ hàng với nhau cùng làm nghề đan võng. Chị Hoa lấy nguyên liệu, se chỉ về tự sản xuất. Bình quân cứ 10 chiếc/ngày/người, giá thành gần 50.000 đồng/chiếc.
Việc đưa võng đi “xuất ngoại” ở làng này cũng đặc biệt, các đại lý dựa vào thương lái trong khi đó các hộ gia đình thường sẽ có vài người chịu trách nhiệm sang tận Lào, Campuchia bỏ mối bên đó. Chị Hoa nói: “Nhà tôi có 2 người em chồng thường xuyên đi bên đó, cứ sau khi làm hộ chiếu thì mỗi năm sang khoảng 3 lần, mỗi lần đi gần 3 tháng liền”. Khi hàng đã “góp” xong khoảng 200 - 300 chiếc võng thì chở đi Lào, Campuchia bỏ mối sỉ cho các chủ cửa hàng, thương lái. Đây là những “mối lái” được duy trì trong thời gian dài. Chị cho biết: “Chỉ cần một tháng không sản xuất, không có hàng thì sẽ mất mối, khiến việc buôn bán sau này càng khó khăn”. Việc tìm kiếm các mối này thông thường bắt đầu bằng cuộc “dạo chơi”. Nhiều người đi trước rủ sang chơi, thấy người ta bán võng nhiều màu sắc, qua hỏi thăm rồi “bắt mối” về nước làm. Đa phần đều đi theo “trường phái tự do”, chỉ cần hộ chiếu, thủ tục là sang Lào, Campuchia buôn bán và học “lỏm” vài từ tiếng Lào sử dụng. Trung bình mỗi năm, chị Hoa bán sỉ gần 20.000 chiếc võng. Theo chị, giá thành, công lao động rẻ, võng đẹp và chắc nên thị trường rất ưa chuộng. Nghề đan võng cũng cải thiện thu nhập các thành viên, trung bình mỗi người kiếm được 200 - 300 nghìn đồng/ngày.
Ông Nguyễn Văn Thanh - Chủ tịch Hội Nông dân xã Đức Chánh, cho biết: “Bắt đầu từ tháng 2 âm lịch đến hết tháng 8 âm lịch, người dân đem võng đi bán Lào, Campuchia rất nhiều, đây được xem như vụ mùa. Người dân ưng đi là họ tự làm hộ chiếu, cứ đi khoảng 2 - 3 tháng là về”. Mỗi năm toàn xã có gần 2 triệu chiếc võng được sản xuất và phân phối đi khắp trong và ngoài nước. Một trong các lý do khiến làng nghề đan võng vẫn trường tồn, bởi lẽ, chính trong người dân đã tìm được con đường buôn bán, nắm bắt thị hiếu khách hàng, cải thiện mẫu mã, sản phẩm phù hợp mà vẫn giữ được nét truyền thống trong từng sợi chỉ đan.
Phú Nhiêu