25/05/2017 16:02
25/05/2017 16:02
Nơi “mặt trời đội biển nhô màu mới”
Nói tới Sầm Sơn, dường như người ta đều cảm nhận được luồng gió mát rượi, trong lành nhẹ thổi trong dư âm miên man của tiếng sóng biển vỗ bờ, khiến tâm hồn lâng lâng rạo rực.

Biển Sầm Sơn. Ảnh: Thế Phong.
Nói Sầm Sơn là nghĩ ngay tới biển, nơi bình minh toả rạng mỗi ngày và theo cách nói của nhà thơ Huy Cận ở đó “mặt trời đội biển nhô màu mới”. Nhưng không phải chờ đến câu thơ mang biểu tượng đẹp với cái nhìn bằng “đôi mắt xanh” của tâm hồn thi sỹ mà từ lâu trong cư dân chài lưới nơi này truyền đời câu chuyện về tình yêu thuỷ chung, bất diệt của đôi trai tài gái sắc. Dẫu không cùng nhau đi trọn quãng đường đời bởi Thuỷ thần đã cướp đi chàng trai làng biển, thiếu nữ đợi hoài người yêu trở về cho tới khi hoá đá. Thương nhớ người con gái nghèo nhưng nết na hiền dịu, dẫu lìa xa cõi đời nhưng trái tim chàng luôn hướng về nàng thổn thức, nỗi nhớ diết da dồn đập, giục trái tim thắp lửa mặt trời. Vầng mặt trời - trái tim yêu người, yêu cuộc sống của người trai ấy cứ ngày ngày từ biển nhô lên chiếu soi hòn Cổ Giải Sầm Sơn, sưởi ấm và chở che mỏm núi tượng hình người thiếu nữ xóm chài son sắc chờ chàng trai yêu dấu. Để rồi cứ ngày ngày khi bình minh lên rạng rỡ và tròn xoe bóng nắng, chính là lúc họ gặp nhau thoả nỗi mong chờ, cùng chung tâm sự, trải lòng lứa đôi với tiếng sóng dào dạt xô bờ...
Sầm Sơn được tạo dựng nên bởi núi và biển
Thuở khai thiên lập địa Sầm Sơn là biển, qua các cuộc kiến tạo địa chất khiến cho biển tiến, biển lùi, mặt đất trồi trụt và nhô cao tạo thành núi Trường Lệ và các cồn cát chạy dài. Sầm Sơn xưa kia là bán đảo, gần như biệt lập với đất liền mà dấu tích còn hiện hữu là cánh đồng quanh năm trắng nước, nơi có dòng sông Đơ ngăn cách bốn làng của xã Lương Niệm - Sầm Sơn xưa với làng Bình Hoà (Quảng Châu, Quảng Xương) như là một cù lao ba bề bốn bên ngập nước. Chẳng thế mà khi An Dương Vương để “nỏ thần vô ý trao tay giặc” đã bị Triệu Đà truy đuổi, cha con trốn chạy cho tới nơi “sơn cùng thuỷ tận” đành phải dừng lại ở nơi này vì trước mặt là biển. Trên đất Bình Hoà, Quảng Châu nay vẫn còn đền thờ ngài và công chúa Mỵ Châu chính là minh chứng.
Có thể nói không nơi đâu trong số các huyện duyên hải tỉnh Thanh lại mang đậm chất núi và biển như ở Sầm Sơn. Với cách nhìn địa lý thì Sầm Sơn với dãy núi Trường Lệ - núi dài và đẹp có diện tích tới 300 ha, được cấu tạo bởi đá hoa cương diệp thạch hình thành cách đây hơn 300 triệu năm với 16 ngọn cao thấp nhấp nhô vươn tới trời cao. Bãi biển Sầm Sơn có chiều dài 9 km, thuộc diện biển nông có những dải đất cát chạy dài theo bờ sóng và hàng năm tiến ra biển rộng. Cửa Hới - nơi sông Mã từ non cao đổ ra biển biếc cung cấp lượng phù du dồi dào cho các loài thuỷ sản và là cảng cá, nơi neo đậu tàu thuyền sau mỗi chuyến vào lộng ra khơi. Ngư trường Sầm Sơn có trữ lượng hải sản lớn và phong phú với nhiều loại cá tôm ngon, nổi tiếng. Núi và biển đã tạo cho Sầm Sơn một sắc thái riêng không lẫn vào đâu được. Chính địa danh Sầm Sơn được gọi tên cho miền đất nơi đầu sóng này có xuất xứ từ âm thanh của sóng biển vỗ vào núi Trường Lệ. Trải qua thời gian với tác động của nước, gió và muối biển dần khoét sâu vào bờ đá, mỗi khi triều dâng con sóng ập vào vách núi nghe như tiếng gầm của biển cả. Tiếng sóng gầm vang vỗ vào đá núi, âm thanh ấy được dân gian gọi tên cho địa danh hòn Cổ Giải là “Hòn Gầm” và vùng đất này mang tên là Sầm Sơn có nguyên do như vậy. Núi và biển đã tạo nên địa hình địa mạo Sầm Sơn, chính núi và biển cũng chung đúc nên dáng vóc, bản lĩnh, tâm hồn và nhân cách của các thế hệ người Sầm Sơn hôm qua, hôm nay và cả mai sau. Qua di tích khảo cổ học, lịch sử, di tích và truyền thuyết ở miền đất nơi đầu sóng này đã phản ánh hiện thực: Người Việt cổ từ rừng theo các dòng sông tràn xuống đồng bằng và chiếm lĩnh những cồn cát chạy ven bờ sóng, chống chọi với thiên nhiên bão gió khốc liệt, từng bước họ đã chinh phục biển khơi để duy trì cuộc sống.
Miền đất của huyền thoại, lịch sử, thi ca mang đậm sắc thái văn hoá biển
Một triết nhân cổ đã nói thật chí lý: Tinh anh của đất trời tạo ra núi sông, sông núi dù đẹp đến đâu cũng trở nên vô nghĩa khi người ta không nhìn thấy vẻ đẹp, giá trị và sở hữu nó. Lời nói đó cũng hoàn toàn đúng với Sầm Sơn. Núi và biển đã tạo cho Sầm Sơn có vẻ đẹp mê hồn và được con người - chủ nhân của những di sản vật thể đó thổi hồn, đến đá vô tri cũng thấm đẫm tình người, tình đời mà cất lên những “lời có cánh”.
Sầm Sơn đất thiêng nên đến đá núi cũng hoá thành “tứ linh” về đây hội tụ. Chếch về phía Đông, hòn Cổ Giải tựa con rùa biển khổng lồ nâng đỡ trên mình ngôi đền thiêng thờ thần Độc Cước nằm sưởi nắng bên bờ cát trắng, phía xa kia là từng đoàn bè mảng dang rộng cánh buồm chở ước vọng bao đời của dân chài mỗi khi vào khơi ra lộng lưới đầy cá tôm. Về hướng Tây có Hòn Tượng Lĩnh còn gọi là núi Đầu Voi nằm phủ phục chầu về đền Cô Tiên xưa là đền thờ vọng Độc Cước, cách đó không xa là đền thờ Lệ Hải Bà Vương - Triệu Trinh Nương cỡi voi đánh cồng chống lại giặc Ngô. Tên của bà được gắn với Sầm Sơn một vùng biển đẹp. Cũng trong dãy núi dài và đẹp với 16 ngọn nhấp nhô, phía Tây Bắc có ngọn núi mang tên núi Phượng, cảnh trí nước biếc non xanh tương truyền có chim Phượng Hoàng tụ họp về đây múa lượn. Giữa núi Trường Lệ về phía Bắc có hòn Trống Mái - biểu tượng của tình yêu muôn đời chung thuỷ, hoá đá rồi vẫn tình tự chẳng rời xa. Cách hòn Đầu Voi một quãng, giữa bốn bề nước biếc nổi lên những rạn đá nổi đá chìm, dân trong vùng gọi là Hòn Câu, vụng Ngọc. Tương truyền các nàng tiên nữ trong những đêm trăng thanh gió mát thường rủ nhau từ trên tiên giới ngự xuống nơi này cùng tắm mát, hát ca rồi ngẩn ngơ trước cảnh bồng lai trần thế mà quên cả đường về...
Hiếm có một vùng đất không rộng dài ở tỉnh Thanh vẫn còn đây di tích và có tới hai câu chuyện đẹp, in đậm trong tâm thức nhân gian như ở Sầm Sơn này. Một truyền thuyết về Độc Cước - chàng trai đuổi giặc bảo vệ quê hương xứ sở, một truyền thuyết về Bà Triều - tổ nghề chài lưới, lao động dựng xây. Cả hai câu chuyện đều phản ánh ước nguyện của cư dân chài lưới cầu cho cuộc sống đủ đầy, yên ấm và đó cũng chính là niềm mong ước tự bao đời của những người con dân đất Việt.
Đến Sầm Sơn được đắm mình trong huyền thoại của đá và núi. Sừng sững Trường Lệ bao đời đổ bóng xuống tâm thức dân gian tượng hình là Bà Mẹ Núi - người phụ nữ vô danh đã hoá thân thành con đê khổng lồ chắn sóng, không cho biển cả nổi cơn thịnh nộ, sóng lớn chồm bờ tàn phá làng chài và những người dân vô tội. Người đàn bà vĩ đại này đã sinh ra cho làng Núi một người con dũng cảm, phi thường: Độc Cước!
Đối diện với biển khơi mênh mông ẩn sóng ngầm, nước xoáy đã hun đúc cho những con người sống bên bờ sóng muốn trụ vững trong cuộc mưu sinh phải có ý chí và nghị lực phi thường. Truyền thuyết đất này là bản anh hùng ca chiến trận, ngợi ca những người con làng biển không tên và có tên như Độc Cước, chàng trai đã tự xẻ thân mình ra làm hai nửa vì cuộc sống bình yên của đồng loại. Một nửa người thần theo bè mảng cùng dân chài ra khơi đánh cá và chống lại bầy quỷ biển, nửa còn lại ở lại đất liền bảo vệ dân lành khỏi bị quỷ Đỏ lẻn vào hãm hại. Ngôi đền cổ kính, linh thiêng có tượng thần ngự ở đầu non, dõi nhìn ra biển lớn luôn sáng soi trong tâm thức mỗi người, như ngọn hải đăng dẫn lối cho thuyền bè vào lộng ra khơi cập bến an toàn, khoang đầy cá nặng. Cùng với Độc Cước người anh hùng làng Núi là Tây phương Đại tướng quân - Trần Đức, vị tướng thời Trần có tài tả xung hữu đột khiến giặc ngoại bang phải bạt vía kinh hồn, bỏ mộng xâm lăng và làm cỏ nước Nam. Đền thờ ngài được người làng Trấp và dân trong vùng quanh năm chiêm bái và hương khói phụng thờ. Đề lĩnh Hoàng Công Lộc - thuỷ tổ của lò võ Lương Trung có công giúp vua đuổi giặc. Tô Hiến Thành - vị quan mẫu mực triều Lý công tâm, vì lợi ích của muôn dân. Hoàng Minh Tự học rộng, tài cao... lập đền thờ ở làng Núi. Noi gương tiền nhân, trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nữ anh hùng Nguyễn Thị Lợi đã không tiếc tuổi thanh xuân, làm nổ tung chiến hạm Amyodanhvin của giặc trên biển Sầm Sơn vào tháng 9 năm 1950 vì nền tự do, độc lập của dân tộc. Sau Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954), được sự chỉ đạo của Đảng, Bác Hồ, tại cảng Lạch Hới xã Quảng Tiến (nay là phường Quảng Tiến), từ ngày 15/10/1954 đến 1/5/1955, đảng bộ, chính quyền và nhân dân Sầm Sơn đã đón 1.869 thương, bệnh binh; 47.346 cán bộ; 5.922 học sinh, sinh viên và 1.443 gia đình cán bộ ở Miền Nam tập kết ra miền Bắc. Sau thời gian nghỉ tại Sầm Sơn, đồng bào, cán bộ chiến sĩ Miền Nam tập kết ra Bắc lại được di chuyển đến các địa phương khác ở Miền Bắc học tập, tham gia phát triển kinh tế - xã hội hoặc về Miền Nam tham gia chiến đấu. Nhiều người trong số đó đã trở thành giáo sư, tiến sỹ, các nhà khoa học, nhà quân sự, anh hùng, chiến sĩ thi đua.... Nhiều người giữ những cương vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và chính phủ. Năm 1966 tổ dân quân du kích xã Quảng Tường đã anh dũng, ngoan cường bắn cháy tàu biệt kích Mỹ...
Miền đất bên bờ sóng Sầm Sơn không chỉ ngợi ca những anh hùng chiến trận, mà các làng chài vùng Lương Niệm còn tạc dạ ghi lòng, tri ân công ân đức của Bà Triều - anh hùng văn hoá, bà tổ của nghề xăm súc. Người đã dạy cho ngư dân nghề dệt ngư cụ để đánh bắt được nhiều tôm cá, cuộc sống đủ đầy. Đền thờ bà không chỉ có ở làng Triều Dương, Quảng Tiến mà còn được nhiều làng xã vùng duyên hải tỉnh Thanh tôn vinh, thờ cúng.
Sầm Sơn mảnh đất nhỏ nhoi nằm bên cửa bể mà có tới 16 di tích, danh thắng nổi tiếng. Trong số đó có 5 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 11 di tích được bảo vệ, phát huy giá trị cấp tỉnh với các loại hình văn hoá, lịch sử, danh thắng tiêu biểu.
Linh khí của đất trời, núi và biển tạo nên thắng tích kỳ vĩ nên thơ là niềm cảm hứng cho các thi nhân dâng trào cảm xúc, cất nên những vần thơ, câu chuyện bát ngát tình đời với các tác phẩm tiêu biểu của Đặng Huy Trứ, Nhất Linh, Đái Đức Tuấn. Tản Đà, Tế Hanh, Xuân Diệu...
Phát huy lợi thế, phấn đấu trở thành đô thị du lịch trọng điểm Quốc gia
Với môi trường địa lý, tự nhiên: biển xanh, núi dài đẹp, cát trắng mịn màng chang chang bên bờ biển nắng, sông Đơ như con rồng xanh bao quanh phía tây tạo nên cho cảnh sắc Sầm Sơn một bức tranh tuyệt đẹp. Một vùng thắng tích non xanh nước biếc, trời biển bao la luôn có sức quyến rũ, gọi mời tao nhân và du khách về với vùng biển đầy nắng gió miền duyên hải với những đặc sản nổi tiếng từ biển khơi mang lại như: tôm, cua, mực, ghẹ, cá ngon các loại. Du khách thoả thích tắm biển, ngồi dưới tán lá xanh của hàng phi lao, rừng thông vi vu gió thổi, thả hồn mình theo những con sóng mênh mang, theo những cánh buồm lướt trên mặt nước. Năm 1906, một học giả người Pháp khẳng định “Sầm Sơn là địa danh nghỉ dưỡng lý tưởng nhất Đông Dương” dựa trên một số tiều chí về: độ thoải dốc của bờ biển, độ mặn của nước và độ mạnh của sóng. Cũng từ đó đến nay Sầm Sơn vẫn được xem là bãi biển nổi tiếng của cả nước.
Thiên nhiên đã ban tặng cho Sầm Sơn cảnh sắc kỳ thú, non nước hữu tình, con người nơi đây với lòng tin, tài năng và bàn tay lao động đã xây dựng nên nhiều di tích đình, đền, nhà cổ, xóm chài và thổi hồn mình vào đó, khiến cho Sầm Sơn luôn hấp dẫn, lay động lòng người. Với non nước biển trời đẹp như tranh, thời tiết mát về mùa hè, ấm về mùa đông, có không gian chiêm bái, ngưỡng vọng những biểu tượng cao cả, thiêng liêng hướng về cội nguồn dân tộc, giao cảm với thiên nhiên, khiến du khách đến đây như trút bỏ được mệt mỏi, ưu tư căng thẳng sau những ngày làm việc vất vả, giúp họ cân bằng đời sống tâm linh, thăng hoa trong cuộc sống và tăng thêm nghị lực để vượt lên chính bản thân mình. Qua mỗi chuyến hành hương du lịch về Sầm Sơn, họ vừa được hoà mình với thiên nhiên, vừa tìm về cội nguồn nhân văn, hướng họ vươn tới những điều cao đẹp: Chân - Thiện - Mỹ.
Những năm gần đây, với việc đẩy mạnh thực hiện phương châm “Kỷ cương - văn minh - thân thiện” trong hoạt động du lịch, Sầm Sơn đã đổi mới mô hình quản lý kinh doanh và các loại hình dịch vụ, tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao, lễ hội... thu hút hàng triệu du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng. Riêng năm 2016, thu hút 4,1 triệu lượt khách, vượt 9,3% so kế hoạch, doanh thu đạt 2.855 tỷ đồng. Năm 2017 với sự kiện kỷ niệm 110 năm du lịch Sầm Sơn, công bố Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành lập TP Sầm Sơn và tổ chức các sự kiện văn hoá du lịch với chủ đề “Sầm Sơn bốn mùa biển hát” - nơi hội tụ và lan tỏa các sắc màu văn hoá, Sầm Sơn phấn đấu thu hút 4,5 triệu lượt khách, doanh thu đạt nhiều nghìn tỷ đồng.
110 năm du lịch Sầm Sơn (1907-2017), từ một thị trấn biển bé nhỏ, người Pháp cho xây dựng thành nơi nghỉ mát phục vụ những người Pháp và vua quan Triều Nguyễn, đến nay diện mạo Sầm Sơn đã và đang bừng lên sắc mới và phát triển khá toàn diện. Mấy năm gần đây cơ sở hạ tầng và dịch vụ lưu trú đã được nâng cấp, đáp ứng nhu cầu du lịch, nghỉ dưỡng ngày càng cao của du khách. Đặc biệt, với quần thể FLC Sầm Sơn có khách sạn 5 sao đầu tiên trong tổng số hơn 600 cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh với những dịch vụ hiện đại bậc nhất đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, nhiều sự kiện mang tầm quốc gia đã được thực hiện tại đây. FLC Sầm Sơn là “Resort có bể bơi nước mặn lớn nhất Việt Nam”. Hệ thống nhà hàng với không gian sang trọng, lịch lãm, Phòng họp VIP, trung tâm hội nghị quốc tế có sức chứa tới 1300 chỗ ngồi. Nơi đây có sân golf 18 hố đáp ứng nhu cầu hoạt động và thi đấu thể thao. FLC Sầm Sơn là điểm đến chất lượng cao, tạo cơ hội cho Sầm Sơn, Thanh Hóa phát triển du lịch trong tiến trình hội nhập quốc tế, thu hút du khách đến với Sầm Sơn cả bốn mùa.
Đảng bộ và nhân dân thành phố Sầm Sơn vừa coi trọng phát triển kinh tế du lịch kết hợp và khai thác tốt các giá trị văn hoá truyền thống và đương đại nhằm tổ chức tốt các hoạt động văn hoá, vui chơi, nghỉ dưỡng phong phú, sinh động, thiết thực và bổ ích. Qua đó giáo dục và nâng cao nhận thức cho mọi người thấy rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và lợi ích của việc bảo vệ môi trường sinh thái biển, ứng xử nhân văn, thể hiện tư tưởng sống “hoà” giữa con người với thiên nhiên. Đó chính là nền tảng vững chắc để phát triển kinh tế - xã hội ở đô thị du lịch Sầm Sơn soi mình bên bờ biển biếc.
TS. Hoàng Minh Tường
Nguồn: Báo Thanh Hóa
Link nội dung:
https://phuongnam.vanhoavaphattrien.vn/noi-mat-troi-doi-bien-nho-mau-moi-a10251.html